Học thuộc bài học thương đau

01/03/2009

Chân Minh

Thảm nạn tết Mậu Thân 1968 ở Huế.


Thảm nạn Mỹ Lai 16.03.1968.


Thảm nạn Cải cách ruộng đất 1951-1955.

Khổ đau có thể làm cho ta nên người, làm cho ta sáng mắt, nếu ta biết học hỏi từ khổ đau. Nhờ có trải qua kinh nghiệm khổ đau, ta có thể hiểu, thương, và chấp nhận cùng nhau. Trong chúng ta có những người đă trưởng thành nhờ đi qua khổ đau, nhưng cũng có những người bị ch́m đắm trong khổ đau mà không thoát ra được, bởi v́ không học được bài học thương đau.

Đất nước đă đi qua một cuộc chiến đầy thương đau, cho đến bây giờ thương tích trong chiều sâu vẫn c̣n, chưa được chữa trị.

Cuộc chiến dai dẳng mà đất nước chúng ta đă trải qua cuối thế kỷ 20 không phải chỉ là một cuộc chiến giải phóng mà c̣n là cuộc chiến tranh ư thức hệ. Chúng ta biết, nếu tất cả những người đấu tranh cho độc lập tổ quốc đă cùng đứng với nhau trên một chiến tuyến không bị các chủ nghĩa đặt vào trong thế đối lập nhau th́ cuộc tranh đấu đă sẽ không cam go như thế, cuộc chiến tranh đó không kéo dài như thế, đau thương tang tóc đă không lớn lao như thế, và dân tộc cũng sẽ không bị ly tán như bây giờ.

Trong các đại Trai đàn B́nh đẳng Chẩn tế Giải oan thiết lập tại quê hương năm 2007 các Phật tử tham dự đă có dịp cầu nguyện với nhau : « …Nhờ phước đức tổ tiên để lại, cho nên hôm nay tất cả chúng ta mới được về lại với nhau để nh́n nhận nhau như con một nhà, để cùng hứa với nhau là sẽ học cho thật thuộc bài học của đau thương trong quá khứ: nguyện từ nay về sau không để cho đất nước bị chia cắt một lần nào nữa, từ nay về sau khi có khó khăn nội bộ sẽ không nhờ đến bất cứ một thế lực ngoại bang nào can thiệp nữa, từ nay về sau sẽ không khởi xướng một cuộc chiến tranh ư thức hệ nào nữa,… »

Học thuộc bài học đau thương để đừng lập lại thêm lần nào nữa, người Phật tử phải học trước v́ tinh thần của đạo Phật là tinh thần phá chấp, không bị kẹt vào giáo điều, ư thức hệ. Giới thứ nhất của ḍng tu Tiếp Hiện nói lên được tinh thần phá chấp ấy : « Ư thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lư thuyết nào, một ư thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lư để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động. »

Những đau thương của các dân tộc Trung Đông hiện thời cũng phát xuất từ sự đối đầu tôn giáo và ư thức hệ. Chúng ta biết những thành phần gọi là « khủng bố » giết người không gớm tay, không hối hận mà c̣n nghĩ rằng ḿnh đang đi trên con đường chính trực, hầu hết đều là những thanh niên con nhà lành, có học thức, có bằng cấp, có địa vị xă hội cao. Họ sẵn sàng chết để trừng phạt đối phương, là v́ họ trung kiên với một ư thức hệ, một tôn giáo… Bên phía « chống khủng bố » cũng vậy, dù phải sống xa nhà, luôn luôn đối diện với tử thần, và dù phải chết họ cũng cam ḷng v́ họ có niềm tin rằng ḿnh đang chiến đấu để bảo vệ chân lư …

Tác giả Chu Văn đă tham dự vào cuộc chiến chống Pháp rồi chống Mỹ từ hồi c̣n rất trẻ. Đọc bài tựa Liêu Trai, ta nghe anh nói về những khổ đau do sự cuồng tín vào chủ nghĩa và ư thức hệ gây ra. Là người tranh đấu trong hàng ngũ cộng sản, không phải là người chống cộng. Mục đích của anh khi viết bài này cũng không phải để chống cộng, cho nên tiếng nói của anh có giá trị khách quan, ai cũng nhờ đó mà thấy được sự thực.

Vào hạ bán thế kỷ thứ 20, niềm tin cho rằng tôn giáo là thuốc phiện của dân tộc cần phải loại trừ một ngày nào đó ; niềm tin nơi chủ trương vô sản chuyên chế rằng chỉ có tư tưởng công nông là lành mạnh, c̣n những tư tưởng duy tâm, tiểu tư sản đều là nguy hại cho dân tộc ; niềm tin rằng chủ thuyết Mác – Lê là đỉnh cao nhất của trí tuệ loài người là con đường duy nhất để giải phóng dân tộc, v.v… đă đứng vào thế đối lập với niềm tin duy linh, hữu thần, nhân vị,… đă gây chia rẽ, chống đối, khổ đau, loại trừ, và bao nhiêu đau thương cho dân tộc đất nước.

Nếu chúng ta không muốn quê hương đất nước lập lại những khổ đau đă đi qua th́ chúng ta phải quyết học cho được bài học khổ đau của quá khứ. Phật tử phải học cho thuộc trước, rồi giúp cho quốc dân cùng học thuộc. Đây là công tác giáo dục ḥa b́nh căn bản. Chúng ta phải chỉ bảo, dặn ḍ con cháu của chúng ta để các thế hệ tương lai thực hành được kinh nghiệm học hỏi của chúng ta.

Tháng 8.2008
Chân Minh


Bài tựa Liêu Trai của Chu Văn :

Chút duyên với Liêu trai

Nói vậy mà chơi, nghe vậy chơi…

Chuyện ấy xảy ra cách đây bốn chục năm dư (1949) tại một vùng hẻo lánh, thôn Thuyền Quan, xă Trừng Giang, huyện Thái Ninh, tỉnh Thái B́nh. Từ đâu dun dủi ra nên thể, về sau, cho đến bây giờ, kẻ cầm bút này đôi lúc nhớ lại như vừa hôm qua, cứ bâng khuâng tự hỏi : Quả như lời nói của người xưa, trong bút có thần, trong sách có người đẹp thật sao ?

Cuốn kỳ thư của văn học Trung Hoa thời ấy, đến với chúng tôi trong một ngày cuối năm, tiết trời lạnh, mây mù ảm đạm. Mưa dầm gió bấc, một bước ra ngoài, lầy lội lép nhép. Mấy anh em chúng tôi, cán bộ Ban tuyên huấn tỉnh Thái B́nh, cùng ngồi thu lu trên một bộ ngựa, hút thuốc lào vặt uống nước chè hột. Không có bàn cờ, không có cây bài, và buồn nhất là không có sách đọc. Tờ báo, quyển sách hiếm lắm, chỉ có một sách lư luận chính trị được phân phối, song cũng là nhỏ giọt. Đang lúc buồn tẻ ấy, bỗng chú liên lạc ở hàng xóm chạy về, cầm tay một cuộn giấy khá dầy, ai bỏ vương trong góc nhà, có lẽ đă từ lâu. Lật mở xem, th́ là một quyển sách cũ, mất những trang đầu trang cuối, nhiều tờ quấn tổ sâu. Một mùi bụi ngái ngái bốc lên. Một cuốn sách chữ Hán, chỉ riêng tôi biết đọc, mà đọc cũng chưa thạo. Lật đi lật lại, reo to : Liêu Trai Chí Dị. Tất cả cùng kinh ngạc mừng rỡ.

Hầu hết những anh em ngồi đây, ít nhiều đă đọc Liêu Trai qua cây bút Tản Đà. Ôi ! Liêu Trai, tiên và quỷ, hồ ly và nho sĩ, những cảnh gặp gỡ vườn hoang gác lạnh, những cuộc chia tay « minh dương đôi ngả », những vần thơ, những tiếng khóc tiếng cười năo nuột trong đêm khuya.

Liêu Trai - cuốn Liêu Trai hiện ra, trước mắt chúng tôi, như một thứ hồ ly, lạ lùng bí hiểm, đầy mùi hương xạ, nhưng hấp dẫn, và đáng trân trọng bao nhiêu !

Vội vàng khêu đèn, đem sách ra đọc. Một người đọc và dịch, ba bốn người nghe. Anh em chúng tôi, rồi cả ông chủ nhà cũng lần tới. Ánh đèn soi mờ tỏ, những gương mặt say sưa, chúng tôi nằm sấp cạnh nhau, mặc cho đêm dài, và mưa dầm cứ sa, tưởng như không bao giờ muốn dứt. Nghĩ lại cũng nực cười. Công việc ban ngày của Tuyên huấn ngày ấy là biên tập và phổ biến những tài liệu giáo dục trường kỳ kháng chiến, chiến tranh du kích, sửa đổi lề lối làm việc, địch vận, phá nguỵ, kinh nghiệm chống càn, toàn những công việc hết sức sôi động, với những cuộc họp, hội thảo, báo cáo, chỉ đạo, điển h́nh, chuyện nước sôi lửa bỏng của một vùng đất đang chuẩn bị đối đầu với những cuộc càn quét, vây ráp, th́ đêm đêm, cũng vẫn những người ấy, lại châu đầu quanh ngọn đèn dầu, ch́m đắm trong thế giới huyền ảo mung lung. Cho hay, con người ta vẫn cần có những giờ phút thư giăn cho cơ thể, và tâm hồn, mà cái mơ, nhất là những giấc mơ đẹp, không những không làm giảm sức hoạt động của cái thực, mà lại tái tạo được sức lực để bồi bổ cho công việc thực. Chúng tôi đêm đêm đọc Liêu Trai, dần dần hầu như tất cả đă thuộc những cốt truyện. Đọc đi đọc lại măi rồi, mới gấp sách lại, trao đổi về ư nghĩa triết lư của các truyện, bàn bạc đến tâm tư người viết  - Bồ Tùng Linh tiên sinh – và nghiền ngẫm những câu văn hay, những bài thơ kỳ diệu, tiếng của ma quỷ hồ ly, nhưng thực chất là những vần sáng tác đầy tâm linh của tác giả.

Vậy ra trong cái xă hội Liêu Trai, người thế gian sống với quỷ cơi âm, con người chung đụng với giống hồ ly thành tinh, nó không có ǵ ngăn cách cả. Làm người, nhưng có nhiều người xấu, c̣n xấu và độc ác hơn ma quỷ hồ ly. Là ma quỷ hồ ly, mà thông minh, túc học, văn nhă hào hoa, trái tim đầy nhân ái, bao dung, hơn cả kiếp người thật. Cái ác ở đây thường gặp là ở những kẻ quan sang chức cả, nhiều của lắm tiền, buông thả trong những đam mê thấp hèn, và hanh vi tàn khốc, coi hạnh phúc của người như một vật nát dưới chân, mua tṛ chơi phù phiếm bằng sinh mạng của đồng chủng… Những đứa này sống không cần đạo lư, công lư nào hết. Chúng hoành hành ngang dọc, không biết trên đầu có ai, sách nhiễu hối lộ, mua chuộc quan nha, vu hăm kẻ vô tội . Những kẻ khốn nạn, nịnh hót ăn trên ngồi trốc, tài tử giai nhân th́ gian nan bạc phận. Những bất công đó, thèm được rửa sạch bằng lưỡi gươm kiếm khách, một phép thiêng mầu nhiệm, bắc cân họa phúc rạch ṛi.

Ở đây, chuyện t́nh yêu chiếm số lớn. Trai là người, gái là hồ ly, là bộ xương khô đă nát từ kiếp nào, mà c̣n thiết tha rạo rực trước cuộc sống trần gian, đầy tục lụy nhưng xiết bao lạc thú. Chỉ có cuộc sống mới có t́nh yêu. Cho nên hồ quỷ t́m đến người chỉ v́ quá mê người. Quá mê người nên sinh hại người, và chính con người và t́nh yêu đă khiến ma quỷ hồ ly hy sinh cả kiếp tiên, tu luyện từ bao thuở để hưởng kiếp sống ngắn ngủi của loài người.

Chúng tôi say mê Liêu Trai, mơ những giấc mơ Liêu Trai, những giấc mơ kỳ diệu, đầy vàng son của tuổi hai mươi. Rồi trong quan hệ hàng ngày, ngôn ngữ giao tiếp, cách đối nhân xử sự cũng nhiễm đầy phong vị Liêu Trai.

Ấy thế rồi cuốn sách quư giá biết bao đột nhiên từ biệt chúng tôi khá là đột ngột, như thoắt hiện ra rồi lại thoắt biến đi.

Một sáng đẹp trời, tôi đang làm việc với một mớ tài liệu, giao thông vừa đưa tới, bỗng thấy cô hàng xóm ngập ngừng bước vào. Cô là em họ ông chủ nhà, ở Hải Pḥng tản cư về năm ngoái. Người thành thị ăn mặc trang nhă, cô gái đi tới như một luồng ánh sáng xanh, làm vui cả gian nhà … Cô nói nhỏ nhẹ, rụt rè.

-          Mẹ bảo sang nói với các anh bên cơ quan…

Tôi ngạc nhiên :

-          Thế bà và cô cần ǵ ạ ?

Cô gái nói trong hơi thở :

-          Là xin các anh cho em cuốn sách chữ nho ạ?

-          Sách chữ nho?

-          Dạ! thầy em, trước có quen một chú khách ở Hải Pḥng, Chú cho bộ sách, hai quyển ạ. Là bộ Liêu Trai. – à vâng, Liêu Trai…

-          Vâng, Liêu Trai. Thầy em quư lắm. Hôm Tây nó đánh Hải Pḥng, gia đ́nh chúng em chạy về. Hai cuốn sách c̣n lại có một. thế rồi thầy em mất…

Cô xụt xịt khóc:

-          Chúng em không đọc được, nhưng mà là của thầy em nên vẫn bày thờ. Một hôm thấy mất. Thế rồi, nghe các anh có cuốn sách đọc rất hay…

Tôi đưa sách. Cô cúi đầu cám ơn, thoăn thoắt bước ra, bóng dáng mảnh mai mờ dần trong bóng lá. Một cô tiểu thư khuê các, buồn cảnh cô đơn, hay một nàng hồ ly hiện ra trong khoảnh khắc, trêu cợt chàng thư sinh trong cảnh pḥng văn lạnh lẽo? Thế là thú vui đêm đêm của chúng tôi đă bay đi mất tích. Những câu chuyện về con người đẹp hiện ra rồi biến đi mang theo sách quư, được đem ra bàn tán - thầm th́ thôi – cũng như một sự kỳ ngộ đưa không khí Liêu Trai vào việc thật hàng ngày.

Chiến sự ngày càng lan rộng. Đêm đêm tiếng đại bác từ sông Cái, bờ biển, vọng sang. Cơ quan chuẩn bị gọn nhẹ sẵn sàng di chuyển. Dân tản cư từ các tỉnh Hải Pḥng, Hà Nội rục rịch bồng con bế cái, vượt sông, vào Thanh Hóa, hoặc ngược lên phía chợ Đại, Cống Thần, để rút đi Việt Bắc. Ủy ban Kháng chiến chỉ thị cho tất cả các cán bộ cảnh giác đề pḥng, và phát cho mỗi người hai ngàn đồng tiền mặt, đề pḥng những khi xảy chiến sự, có thể đứt liên lạc. Nhóm Liêu Trai, mỗi người một việc, anh th́ tham gia ban đốc chiến, anh đi chuẩn bị cơ sở bí mật, anh sửa soạn in truyền đơn địch vận, viết bài hô hào nhân dân đánh giặc. Một tuần, có khi vài tuần, tạt qua về cơ quan, gặp nhau, ngậm ngùi cho cái kiếp cuốn Liêu Trai Chí Dị! Người đẹp bên hàng xóm đă đi rồi, không rơ lúc nào, lai vô ảnh, khứ vô tung, như sự biến đi của hồ ly vậy. Và có mang theo cuốn sách quư. Măi về sau, mới biết được nàng đă về vùng địch Hải Pḥng.

Mấy chàng thư sinh, ngơ ngẩn ôm tương tư, t́m thú tiêu sầu, thường gặp nhau ở quán cà phê Chú Mại bằng số tiền “đứt liên lạc”. Cái quán cà phê lưu động, nay đây mai đó, kiếm ăn trên số tiền của người thành thị c̣n lưu lạc. Những đêm lạnh rồi những đêm lạnh. Quán cà phê Chú Mại chứng kiến những cuộc gặp mặt kéo dài nơi đất nóng, và chúng tôi chưa đứt liên lạc, th́ số tiền ứng tạm đă đứt hết rồi, cho đến lúc giặc đánh gần tới nơi, tiếng súng 12 ly 7 tới sát nách rồi, anh em chúng tôi chia tay nhau, người lên khu III, người ở lại cơ quan cũ, người vào quân đội.

Tôi khoát ba lô, theo đường dây lên công tác tại Ban tuyên huấn Liên khu III. Trước khi đi, có đến chào người bạn vong niên – ông chủ nhà tốt bụng - từng chia sẻ nỗi vui buồn ấm lạnh, chung quanh những đêm Liêu Trai.

Ông rầu rầu cầm tay, ngập ngừng, cảm khái như Cao Tiệm Ly tiễn Kinh Kha bên bờ sông Dịch:

-          Chú ra đi, phen này, có c̣n gặp lại không, chưa rơ, xin cho tôi khuyên một đôi câu!

-          Bác cứ dạy bảo cho, bác ạ … Coi tôi như em bác…

Giọng ông đứt quăng:

-          Cái cuộc đời ta: Thế sự chi nghênh nam bắc điểu. Nhân t́nh diệp-tống văng lai phong. Một sự chia tay là một sự đứt ruột. Chú ra đi, nhớ rằng cái nợ Liêu Trai, nó nặng cân lắm. Chớ đọc Liêu Trai nữa làm ǵ, v́… nếu anh tỏ ra rằng biết nhiều, học nhiều, có khi mang vạ. Cái anh hoa phát tiết vốn là điều nên kỵ.

Chúng tôi chia tay buổi chiều hiu hắt. Giặc đă đánh bốn bề. Đêm đêm tiếng súng bôpho và ánh sáng hỏa châu. Ngày ấy, tôi lạc quan, vô tư lắm. Nhưng mà, lời ông chủ nhà nói, nó mới nghiệm làm sao. Năm 1958, về làng xưa, t́m thăm cảnh cũ. Cô hàng xóm xinh đẹp đâu c̣n, và ông bạn vong niên, ông gặp nạn, chết thảm trong cải cách ruộng đất. Hởi ơi!

Đây là chuyện về sau. Nhưng cái hồi 1950, 1952 ấy, kháng chiến gian nan, ở rừng, nằm hang, ăn sắn, chia nhau điếu thuốc bẻ đôi, nhưng đă bước vào gian đoạn chuẩn bị tổng phản công. Tất cả cán bộ đều phải qua chỉnh huấn chỉnh đốn tổ chức. Trong chỉnh huấn, những người đồng chí cốt cán có nhiệm vụ giúp đỡ nhau t́m ra cái nọc độc tiềm ẩn trong mỗi người, giúp nhau đầu tranh mà nhổ sạch những tư tưởng phong kiến, tư sản ấy, để xây dựng cho nhau cái tư tưởng công nông lành mạnh.

Từ những cuộc đấu tranh thân ái rồi đi đến truy bức, hành hạ thật sự. Có những chuyện thường ngày - vốn là chuyện chơi đùa - bỗng được thổi phồng thành những khuyết điểm nghiêm trọng. Trong không khí ấy, muốn giữ được thể diện và tín nhiệm, muốn được nhận là con cái nhà công nông nghèo khó, th́ buộc phải giấu nhau nguồn gốc gia đ́nh, giấu nhau tŕnh độ học vấn, giấu nhau chuyện t́nh cảm riêng tư. Nặng nề, oi ả như thế, mà nếu các bạn đồng học, đồng nghiệp, đồng liêu lại biết rằng anh đă đọc các thứ tà thư loại Liêu Trai đă bị thâm nhiễm bầu nọc độc tư tưởng duy tâm, thần bí, và phản động kia, đă chịu nhiều ảnh hưởng xấu xa, th́ chớ ḥng thoát được…

Không nói ra, th́ sai phương châm “thành khẩn bộc lộ, trị bệnh cứu người”. Nói ra th́… dối ḷng ḿnh, dối ḷng người, phụ t́nh tri kỷ với Liêu Trai…

Nhiều đêm không ngủ.

Liêu Trai hiện ra, trong một giấc mơ chập chờn, mang h́nh bóng em họ ông chủ nhà năm trước nàng nghiêm nghị như trách, như răn :

-  Xưa nay cuộc hẹn ḥ nơi mái Tây những gặp gỡ vườn sương miếu nguyệt, nồng mặn ân t́nh như thế, phút biến thành túc trái, oan khiên, chung quy chỉ v́ chẳng biết kín chuyện, giữ ǵn chung thuỷ…

H́nh bóng biến đi, như sương, như tuyết.

Tôi đă không thành thật trong chỉnh huấn, giấu biệt đi một sự kiện quan trọng là đă mê và c̣n rất mê tập truyện Liêu Trai. Nhưng chính trong những buổi đấu tranh ấy muốn xua đi cũng không được cái ư nghĩ: Vậy th́ những người đang ra sức giúp đỡ ḿnh bằng cách phân tích, so sánh, dẫn dụ và xỉ mạ kia, th́ cái tấm ḷng nào là chân, tấm ḷng nào là giả. Và những bộ mặt kia, th́ cái nào là người, cái nào là tiên bụt, ma quỷ, hồ ly… Thôi th́… có vọng ngôn chi… có thính chi…(nói mà chơi, nghe vậy mà chơi...)

Thế rồi ḥa b́nh lập lại. Chúng tôi lao vào việc đấu tranh lở đất long trời: giảm tô và cải cách ruộng đất. hạ phóng, ba cùng bắt rễ xâu chuỗi, xóa bỏ toàn bộ giai cấp địa chủ. Những buổi vạch mặt, những đêm tố khổ. Những con người thành phần trong sạch đột nhiên trở thành thần thánh, những con người bổng trở thành giun dế, cỏ rác, mà không biết là tội lỗi từ đâu. Thiêng liêng là t́nh cha con, vợ chồng, bè bạn. Tất cả những t́nh cảm cao đẹp ấy sợ rung lên trước những khảo đả nhục h́nh, những ṭa án mọc lên giữa chợ, dưới ánh lửa đùng đùng của ngàn ngọn đuốc khói mờ ḷa mây. Quan ṭa không cần biết chữ, luận tội dựa trên tố khổ, bị cáo chỉ có quyền nhận tội, không có luật sư bào chữa, không được thanh minh. Thốt ra nửa lời kêu oan, lập tức bị át đi bằng những đợt sóng “đả đảo”. Án h́nh phán quyết rất nhanh, tội chết thi hành tại chỗ: Súng dân quân bắn vào những h́nh người, gầy ốm xác xơ như tă rách.

Những cái chết thê thảm, trước trăm ngàn con mắt thỏa măn đầy ánh lửa dữ dằn…

Cảnh này là cảnh nào?  Xảy ra ở đâu ? Nó là chuyện thật hay giấc mơ địa ngục?

Ai là người ? và đâu là cái thật, cái giả, cáo ác, cái thiện?

Chao ôi ! Giá mà ta không đọc Liêu Trai, th́ có lẽ trong những cảnh ngộ ấy, cứ quy nghĩ một chiều, hành động một chiều có lẽ cũng thanh thản hơn là…

Nhưng cái duyên cái nợ với trang sách, tâm linh với tâm linh vốn có sợi dây ràng buộc. Ôi, có v́ nhau mà mang lụy chăng, có v́ nhau mà xót xa trăn trở, cũng t́m thấy cái đồng điệu, ngày nay cũng như ngày xưa.

 

Cuộc đời ta, năm tháng theo nhau nhanh vùn vụt, và cái c̣n lại trong tim óc, những ấn tượng văn học, đâu có phai mờ ? Cuối năm 1968, trong chiến trường Trường Sơn, tôi lại trải những đêm mưa, trong xó rừng thẳm, với tiếng chim khô khốc, tiếng tắc kè giật giọng những phút pháo sáng trắng trời, những tiếng nổ kinh hoàng… anh chiến sĩ Trường Sơn ngày ấy, đêm đêm trong gian hầm chữ A, đem lại cho tôi những giờ phút êm dịu, trong khung cảnh chiến tranh ác liệt ấy chung quanh ngọn đèn dầu hạt đậu, là những chuyện vui buồn, những người trai kể chuyện ma…

Ma quỷ đây là bạn, là đồng chí, hôm qua c̣n lái xe, làm đường, bắn pháo cao xạ. Thoáng một giây ; cơn lốc đen x́ ập đến, họ chia tay hai ngả âm dương. Nhưng thể phách dù tan, mà tinh anh c̣n nguyên vẹn. Họ thèm cuộc sống, và họ lẩn quất bên người sống.

Người sống, kể chuyện về họ :

Rằng, ở ngă ba sông Ta Lê, có một đêm, tự nhiên bổng bật lên luồng ánh sáng xanh lè, mà lại tỏ hơn trăng. Trong luồng ánh sáng ấy, hiện ra một đoàn người ngụy trang đầy ḿnh, súng ống chỉnh tề, đội ngũ đều tăm tắp như đi diễu binh. Họ hành quân đến bên sông, không chờ có phà đón, cứ lội qua ḍng nước chảy như thác. Quái chưa ! Họ đi đều, không tiếng động, bàn chân như chỉ lướt trên mặt nước. Các chị em công binh đón bên bờ, vỗ tay. Những người lính kia vỗ tay, không thành tiếng. Họ cười, nụ cười rộng, răng sáng loá như sao. Và họ đi, đi tít tận vào trong phía Nam, đi đến đâu, ánh sáng xanh ngằn ngặt bay theo họ.

Ma đây mà ! Những chị em công binh đều khóc, chỉ mong níu được họ lại, để mà thăm hỏi đôi lời.

… Ở ngă ba Đầu Đấu, có một khúc đường men trên miệng vực thẳm, xe qua đó chỉ cần lỡ một tấc là tiêu biến ngay. Giặc đánh ngày đánh đêm. Chị trung đội trưởng công binh chỉ huy, cho cắm một hàng cọc tiêu, sơn trắng, cạnh đường để dẫn lối xe đi. Một đêm, giặc đánh nát hàng cọc tiêu. Chị công binh nọ khoác dù lụa, đứng ra giữa đường, dơ đôi tay trắng ngần, làm hiệu cho xe đi. Hết tiểu đoàn này đến  tiểu đoàn khác. Máy bay địch lăn xả vào đánh hết trận này trận khác. Tan khói bom, chị công binh áo trắng vẫn nguyên vị trí chỉ huy, hy sinh ở tư thế đứng. Nhưng cũng từ đó, đêm, đêm, chị lại hiện ra, trắng toát, giơ tay vẫy cho xe chạy. Chị không hiện ra, là điều xấu, chớ có qua… Đă bao nhiêu tháng như vậy. Có nhiều anh lái xe qua đó, đă hăm xe lại, chạy xuống lạy chị. Nhưng tới gần, chỉ thấy một cái cọc tiêu trắng, cao hơn những cọc khác một chút mà thôi !

Có khúc đèo gọi là đèo bà Nhạ, Nhạ là một cô gái giao liên hy sinh. Mộ chị ở ngay đỉnh đèo. Trước gọi là chị sau th́ ai qua đó cũng đều tôn là Bà. Bà linh thiêng vô cùng. Mộ bà lúc nào cũng đầy hương hoa. Có lần, bà hiện lên cứu một ông cán bộ có tuổi, qua vùng rừng đặc bom nổ chậm. Ông già nhận cô gái làm con… Đến ngôi mộ th́ biến mất…

Mỗi người một chuyện, trên con đường ngàn dặm Bắc Nam. Những chuyện ly kỳ như : Hồn liệt sĩ bắt biệt kích, chiến sĩ bị đạn xuyên thủng tim mà vẫn lái xe an toàn hằng cây số. Chuyện voi rừng tự nguyện đến trạm, nhận tải hàng, bao giờ cũng đi đầu đàn, hết nhiệm vụ lại về rừng.

Cái vốn Liêu Trai, trong kho tàng văn học nhân loại bao giờ mà cạn ! Bởi v́, cơi người ta c̣n có thiện, ác, chính, tà, c̣n có những buồn vui, c̣n có những ước mơ và đau khổ, và t́nh yêu chiếm ngự giá trị vĩnh hằng về thời gian không gian, vượt những cái hữu hạn của cuộc sống.

Bốn mươi, hơn bốn mươi năm qua, những ấn tượng và say mê đối với Liêu Trai vẫn c̣n rơ mồn một , không phải hôm qua, mà ngay cả bây giờ. Và có người bạn tôi, sau nhiều năm tháng khổ công, t́m đọc và nghiên cứu cổ văn, đă dành tâm lực quyết nuôi chí dịch lại toàn bộ Liêu Trai.

Hơn bốn trăm truyện, đủ loại, đủ cỡ ngắn dài. Từ trước đến nay, ở nước ḿnh, chưa ai dịch hết khối lượng tác phẩm đồ sộ ấy. Bây giờ có một chàng thư sinh, đang mong có đủ sức, có thời gian để làm cái việc khổng lồ kia.

Mấy năm qua, chàng đă dịch được chừng hơn một trăm truyện và cũng đă thấy khá dầy, tập giấy chép tay. Từ giờ đến khi trọn bộ Liêu Trai Chí Dị được ra mắt th́ hẳn c̣n xa. Nhưng thế nào rồi cũng có ngày ấy, và những người yêu Liêu Trai, dịch Liêu Trai, nào có ít đâu…

Đêm khuya, trước đèn, ngồi đọc lại những trang chép tay của anh bạn, vui buồn với những nhân vật quái ảo trong trang sách và nhớ lại những năm tháng trước, thuở mới làm quen với tập Liêu Trai.

Chuyện xưa, mà vẫn đầy xúc cảm mới mẻ. Và ở chung quanh cơi đời thường, vẫn là những cuộc vật lộn giữa hay và dở, đúng và sai, nhân hậu và độc ác, thật thà và dối trá, thiên h́nh vạn trạng, luôn luôn biến đổi.

Âu cũng là một cuộc sống Liêu Trai, những pha trộn người và quỷ. Không phải ma quỷ là ác tất cả. Không phải cứ mang tiếng đă là con người, th́ là thiện tất cả. Đặt tập bản thảo dầy dặn xuống bàn, lặng ngồi trong đêm, vẫn thấy có một lời rút ra từ trong sách ấy !

Thiện căn ở tại ḷng ta…

4-1989
Chu Văn

 
 

 

Nguồn phusaonline.free.fr