NHÂN NGÀY GIỔ TỔ HÙNG VƯƠNG CÁM ƠN ANH : NGƯỜI LÍNH VNCH
Tho Van 27/03/2009

              MƯỜNG GIANG

        (Bài được lưu trữ trong website www.huongvebinhthuan.org và thuvienvietnam.org) 

            Nếu tính từ thời các vị vua Hùng dựng nước cho tới ngày nay, sinh mệnh của dân tộc Việt đă có hơn mấy ngàn năm lịch sử. Để có được một giang sơn cẩm tú đẹp đẻ như hiện tại, tổ tiên ta bao đời đă không ngừng dùng máu nước mắt và thân xác, tranh đấu dũng liệt để ngăn chận, chống lại ngoại xâm, nhất là giặc Tàu phương Bắc. Nhờ vậy dân tộc Hồng Lạc mới được trường tồn 

            Ngày 30-4-1975 cọng sản quốc tế Hà Nội vào Sài G̣n, gây nên một cuộc đổi đời mạt kiếp, tồi tệ và kinh hoàng nhất qua các thời đại lịch sử, không thua ǵ 10 thế kỷ Bắc thuộc hay 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ. Ba mươi bốn năm qua, cuộc sống của người nghèo cả nước vẫn không có ǵ thay đổi dưới sự cai trị của một chế độ toàn trị bạo tàn, vẫn cướp bốc giết người, đàn áp tôn giáo, trả thù người sống không thuộc băng đảng phe nhóm. 

            Cũng vẫn cầy mồ dầy mă người chết, mà mới đây là vụ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa. Nhưng tệ mạt hơn hết là Bắc Bộ Phủ dám đem đất đai biên giới, đảo biển của đất nước, bán nhượng cho Tàu cộng cũng như khoáng nhượng thế chấp lănh thổ khắp nước cho tư bản, mục đích cũng chỉ để củng cố đảng cọng sản và thu thập tiền vàng chia nhau hưởng thụ. 

             Tóm lại trong ḍng sinh mệnh của dân tộc, người VN chưa bao giờ bị một chính quyền nào, kể cả thời phong kiến quân chủ, chà đạp nhân cách, bốc lột tài sản và khốn khổ thân xác, cho bằng đă sống dưới chế độ cọng sản, qua danh từ hoa mỹ là ‘ xă hội chủ nghĩa’. Thời nước Việt bị giặc Tàu, giặc Tây đô hộ, cũng đâu có cảnh dân chúng đă phải bỏ quê làng, mồ mả tổ tiên một cách tập thể, để di cư từ đất Bắc vào miền Nam hay vượt biển ra nước ngoài để trốn giặc. Thảm thê hơn hết, là thân phận của người phụ nữ thời nay, thà chịu bán trôn cho bọn Tàu Trắng, Tàu Đỏ, Mă Lai, Hàn quốc.thậm chí cả Phi Châu, để vượt thoát ra khỏi nước, rồi trong âm thầm nhục hận như báo chí ngày nào cũng loan tin. Thật là : 

            ‘ đôi dép râu giẫm nát đời son trẻ
            mũ tai bèo khép kín nẻo tương lai
            Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lư
            Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do..
’ ’           

            Bỗng dưng thấy thấm thía tận cùng, khi vô t́nh đọc được một bài ca dao cổ, mà các bà mẹ VN bao đời thường hát để ru con : 

            ‘ gió Động Đ́nh mẹ ru con ngủ
            Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
            Tiết trời thu lạnh lành lanh
            Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
            Bống bồng bông, bống bồng bông
            Vơng đào mẹ bế, con Rồng cháu Tiên..
’ ’ 

            Cách đây mấy chục thế kỷ, các tổ Hùng Vương đă mở nước Văn Lang và bao đời, tiền nhân ta tiếp nối xây dựng, bảo tồn và ǵn giữ đất nước. Từ năm 1945 tới nay, trong cuộc chiến ngăn chống sự xâm lăng đồng hóa của chủ nghĩa duy vật cọng sản, đă có không biết bao nhiêu thế hệ thanh niên VN đă gục ngă trước súng đạn và bạo lực. Tuy vậy, trưa ngày 30-4-1975 v́ tuân theo lệnh của TT Dương Văn Minh, QLVNCH đă buông súng ră ngũ nhưng hầu hết các chiến binh không đầu hàng và chẳng có ai bị cảm hoá hay tẩy năo, dù đă bị giặc cầm giam tại các trại tù khắp nước, trong nhiều năm. 

            Tại hải ngoại, suốt ba mươi bốn năm qua (1975-2009), người Việt dù đang sống kiếp lưu vong trên khắp các nẻo đường thế giới, nhưng ai cũng khắc ghi trong tâm khảm lời thề phải quang phục TỔ QUỐC, để lấp kín cái vũng bùn ô uế tanh hôi của thiên đàng cọng sản. Có vậy, ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc và người Việt mới có thể, ngẩn mặt sánh vai với thế kỷ văn minh của nhân loại. 

            Như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) từng nói ‘ Đất nước c̣n th́ c̣n tất cả ‘. Bởi vậy sau ngày 1-5-1975, đồng bào Miền Nam đă mất hết mọi thứ kể cả quyền làm người, làm dân và làm chủ tài sản của riêng ḿnh, khi chính phủ và quân lực VNCH không c̣n tồn tại, để bảo vệ họ như hồi Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và trăm ngàn chiến cuộc, khắp mọi nẽo đường đất nước, cho tới ngay 30-4-1975 bị ră ngủ theo lệnh buông súng đầu hàng. 

            Tự ngàn xưa quân đội Việt Nam luôn nổi tiếng kiêu hùng, nên đă đạt được nhiều chiến công hiển hách trong suốt ḍng lịch sử của dân tộc, qua các cuộc b́nh Chiêm, phá Tống-Nguyện-Minh-Thanh, khiến các nước lân bang Lào, Miên và cả Xiêm La (Thái Lan) phải kinh hồn bạt vía khi đối mặt với Đại Việt.    

            Là con cháu của Tổ Tiên Hồng-Lac, chúng ta dù được sinh vào thế hệ nào chăng nửa, ra đời trong nước hay nơi hải ngoại, vẫn phải luôn ngưỡng mộ và hănh diện, về công đức vĩ đại của tiền nhân bao đời ngay từ thời các Tổ Hùng Vương dựng nước. 

            Với ư nghĩa thiêng liêng và cao quư trên, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa được h́nh thành trong giai đoạn đất nước tạm chia (1955-1975), chống lại cuộc xâm lăng bằng quân sự, của khối cọng sản đệ tam quốc tế, do Cộng Sản Bắc Việt đảm nhận. ĐÂY LÀ MỘT CUỘC CHIẾN SINH-TỬ, của quân đội MIỀN NAM, chống lại cuộc xâm lăng của bộ đội MIỀN BẮC, để giữ lại phân nửa gấm vóc giang sơn của Tiền-Nhân, không lọt vào gông cùm nô lệ của giặc đỏ. 

            Cho nên, đây không phải là một cuộc chiến giữa CỘNG SẢN BẮC VIỆT VÀ NGƯỜI MỸ, như giới truyền thông phương Tây thời đó và ngay cả bây giờ đă bóp méo sự thật, mục đích đầu độc dư luận thế giới, làm giảm uy tín của QLVNCH. Đây cũng chính là nổi thảm thê chất ngất của người Lính Miền Nam, trong hai mươi năm khói lửa. V́ định kiến, v́ buông xuôi, v́ thủ đoạn con buôn quốc tế, tất cả đă dồn ép QLVNCH vào chân tường, trong cuộc chiến đấu đơn độc, không hậu phương, không một chút t́nh quân-dân cá-nước 

            Hai mươi năm chiến đấu đời lính buồn ơi là buồn, trước mặt phải trực diện với một kẻ thù gian xảo độc ác, mất hết thiên lương nhân tính v́ đă bị chủ nghĩa nhồi sọ, cho nên chỉ biết có giết người để đạt mục đích được khắc sâu trong da thịt. C̣n sau lưng bị thọc bởi hậu phương vô t́nh bạc bẽo và cuối cùng trên đầu là đồng minh với đại bàng, luôn ŕnh rập để phản bội và bán đứng. 

            Cảm nhận đựợc thân phận nhược tiểu của đất nước và sự bất hạnh của dân tộc, nên người lính chấp nhận hy sinh đời trai, để làm tṛn bổn phận cùng trách nhiệm của một con người có tim óc, cho tới trưa ngày 30-4-1975 khi TT.Dương Văn Minh bắt buông súng đầu hàng. Sau đó, cọng sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc, chẳng những mọi chiến lợi phẩm của chính phủ VNCH từ công ốc, ngân khố, quân trang dụng, trong đó có mười sáu tấn vàng y của quốc gia, được Nguyễn văn Hảo giữ lại để nạp dâng công cho Bắc Bộ Phủ. Tệ nhất là VC táng tận lương tâm, cướp luôn tài sản mồ hôi nước mắt của đồng bào, mà trong số này, có nhiều mẹ chiến sỉ, đă từng nuôi dấu cán binh bộ đội, ủng hộ vàng bạc lúa gạo cho chúng, trong suốt thời gian chiến tranh. 

            Ngoài việc cầy mồ người chết để trả thù bị thua VNCH trên chiến trường, VC c̣n hành hạ những phế binh, cô nhi tử sĩ bị kẹt trong nước, với đủ thủ đoạn học được từ KGB, mà mới nhất là chiến dịch ‘ đuổi tận giết tuyệt ‘ các thành phần trên, đang sống tại các cḥi dựng trong Nghĩa Địa Gầm Cầu Bải Hoang Hè Phố từ Sài G̣n tới mọi miền đất nước từ vĩ tuyến 17 vào tận Hà Tiên. Và thê thảm tận cùng là ‘ Sự Nghiệp Bán Nước Việt Cho Tàu Đỏ ngay từ thời Hồ Chí Minh 1949 tới Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng 2009. Bán hết từ biên giới, biển, đảo, Miền Bắc, Cao Nguyên Nam Trung Phần.. kể cả ḍng sông thiêng Cửu Long, vựa lúa nuôi sống cả nước. 

            Th́ ra cách mạng bảy mươi lăm năm nói là để giải phóng đất nước, mục đích cũng chỉ có thế thôi, nên từ đó theo thời gian, hằng ngàn huyền thoại về ‘ Người Bộ Đội Miền Bắc,Vượt Trường Sơn Vào Nam Đánh Mỹ Cứu Nước ‘, đă theo lớp son phấn đảng tham nhũng, tham tàn, tham địa vị, bán dân, bán nước cho Trung Cộng, đă tan biến theo lớp sóng phế hưng của cuộc đổi đời mạt lộ. 

            Ba mươi bốn năm tan hàng ră ngũ, quân-dân Miền Nam đă lần lượt đồng hành, qua hết chín tầng địa ngục trần gian nơi thiên đàng xă nghĩa. Nhưng người lính Miền Nam, sinh ra trong khói lửa, trưởng thành chốn chiến trường, nên thễ xác dù đă bị bầm giập tan nát, tinh thần cuả người lính vẫn nguyên vẹn và không ai có thể thay đổi hay ngăn cản lư tưởng của họ.           

‘ dấu binh lửa nước non như cũ
kẽ hành nhân qua đó chạnh thương
phận trai già rủi chiến trường
chàng Siêu, tóc đă điểm sương mới về .’

(Chinh Phụ Ngâm Khúc ) 

1- GHI NHỚ CÔNG ĐỨC DỰNG NƯỚC CỦA TỔ HÙNG VƯƠNG : 

            Theo Việt sử, Họ Hồng Bàng là triều đại đầu tiên của nước ta, có quốc hiệu là Văn Lang. Qua truyền thuyết được ghi trong tất cả các bộ sử kư nước Nam, từ trước tới nay th́ các Tổ Hùng truyền được 18 đời vua, mới bị mất nước về tay Thục Phán, cũng là một người Việt trong nhóm Bách Việt.           

            Đó là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Au Cơ, Hùng Quốc Vương, Hùng Việt Vương, Hùng Hi Vương, Huỳng Huy Vương, Hùng Chiêu Vương, Hùng Vị Vương, Hùng Định Vương, Hùng Uy Vương, Hùng Trinh Vương, Hùng Vũ Vương, Hùng Anh Vương, Hùng Hiền Vương, Hùng Tạo Vương, Hùng Nghị Vương và Hùng Tuấn Vương. 

            Thục Phán đánh bại vua Hùng thứ 18, vào khoảng thế kỷ thứ III trước tây lịch. Do nhà vua là người thuộc nhóm Âu Việt, nên đổi tên nước là Âu-Lạc ( tức là Lạc Việt và Âu Việt), xưng hiệu là An Dương Vương, dời kinh đô từ Phong Châu về Cổ Loa, thuộc Huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (Bắc Phần). 

            Riêng về danh xưng quốc tổ Hùng Vương của VN, đă có sự bàn căi sôi nổi của nhiều học giả trong cũng như ngoài nước, cũng chỉ v́ các danh từ Lạc Hầu, Lạc Tướng nên phải có Lạc Vương, chứ không phải Hùng Vương. Đầu tiên là một học giả Pháp tên Henry Maspéro, tiếp theo có Sở Cuồng Lê Dư, Ứng Ḥe Nguyễn Văn Tố, Dào Duy Anh (miền Bắc), Phạm Hoàng Mỹ, Trần Viên Chung (miền Nam).. trước tháng 5-1975. Chung qui cũng vẫn quanh vấn đề, phải gọi vua nước Văn Lang là ‘ Hùng vương hay Lạc Vương ?’. 

            V́ nước ta bị Bắc Thuộc cả ngàn năm, nên hầu hết các nguồn sử liệu trước đó, đă bị mất mát hay tiêu hủy nên chẳng có một chứng tích nào sót lại, ngoài sử do người Tàu thời đó viết, để minh chứng xác thực. Măi cho tới thời vua Trần Thái Tôn vào năm 1217, sử gia đầu tiên của nước ta là Lê Văn Hưu, mới soạn bộ ‘ Đại Việt Sử Kư ‘, gồm 30 quyển nhưng cũng chỉ bắt đầu, từ thời vua Triệu Vũ Đế (207 trước TL ) của Nhà Nam Việt, cho tới cuối nhà Hậu Lư (vua Lư Chiêu Hoàng ) mà thôi. Thời Vua Lê Thánh Tôn, quan Lễ Bộ Thượng Thư là Ngô Sĩ Liên, mới tom góp, sưu tầm và ghi chép lại những huyền thoại, truyền thuyết trong dân gian, qua hai tác phẩm ‘ Việt Điện U Linh ‘của Lư Tế Xuyên và ‘ Lĩnh Nam Chích Quái ‘ của Trần Thế Pháp, để viết bộ ‘ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư ‘, gồm 15 quyển, chia thành hai phần, trong đó 5 quyển đầu gọi là ‘ Ngoại Kỷ ‘ chép từ đời Hồng Bàng cho tới năm 938 sau TL, Ngô Vương Quyền đánh đuổi quân Nam Hán, mở nền tự chủ cho dân tộc VN tới ngày nay. 

            Cũng từ đó, nước ta qua các triều đại, đều làm lễ giỗ Tổ Hùng Vương, vào ngày mồng mười tháng ba (10-3) âm lịch hằng năm. Truyền thống trên bao đời đă khắc sâu vào tâm trí của người Việt cả nước, và phát sinh ra câu phong dao mà ai cũng đều thuộc ḷng : 

            ‘ Dù ai đi ngược về xuôi
            nhớ ngày giỗ Tổ, mồng mười tháng ba .’ 

            Trước năm 1945, giỗ Tổ Hùng Vương được quan Lễ Bộ Thượng Thư, thay mặt nhà vua làm chủ tế, tại đền 18 Tổ Hùng được xây dựng từ thời Hậu Lê (hậu bán thế kỷ XV) và liên tiếp được tu bổ nhiều lần vào thời nhà Nguyễn. Đền Hùng được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc đế đô Phong Châu của nước Văn Lang. Miền này nay là xă Hy Cương, Huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ (Bắc Phần). 

            Phong Châu là đia linh nhân kiệt, phong cảnh hùng liệt diễm t́nh, phía trước có nhiều sông lớn tụ hội, hai bên có nhiều núi cao chầu hầu.Tại đây đất đai từ trên g̣ xuống tới băi, đều màu mỡ xanh tốt. Đúng là nơi định đô lập nghiệp muôn đời của một dân tộc tuyệt luân phi thường, anh hùng bất khuất nhưng tâm hồn phong thái vẫn ḥa nhă yêu chuộng ḥa b́nh. 

            Phong Châu cũng là Bạch Hạc ngày nay, nằm bên tả ngạn sông Lô (Thao), cũng là nơi đă chứng kiến nhiều chiến công của dân tộc trong ḍng sử Việt, mà gần nhất là chiến thắng sông Lô trong cuộc chiến tranh Việt-Pháp. Do các yếu tố phong thổ đặc biệt trên, nên khi c̣n tại vị, các Tổ Hùng đă dựng đền trên núi Nghĩa Lĩnh hay núi Hùng. Nghĩa Cương, Hùng Lĩnh hay Hy Cương đều chung một danh xưng chỉ núi Hùng, cao 175m, nằm trong thôn Cổ Tích. Núi Hùng chung quanh được bao bọc bởi 99 ngọn đồi Voi Phục, với cây cối quanh năm xanh tươi mát mẻ. Đền Hùng là nơi tế tự trời đất, thổ thần và tiên tổ của dân tộc Hồng-Lạc. Đền này, từ đó về sau, trải qua các triều đại trong lịch sử, đều được chọn làm Đền Tổ Hùng Vương. 

            Phong cảnh đền Hùng muôn đời hùng vĩ, trời xanh nắng ấm vào tiết Thanh Minh nhằm vào tháng ba âm lịch hằng năm. Trong dịp này, Đền đă có dịp soi bóng trên ḍng nước xanh của ḍng Bạch Hạc, là vị trí giao lưu 

            Trên đường lên Đền Hùng, dưới chân nuí có Đền Giếng, trong đó tới nay vẫn c̣n chiếc Giếng Ngoc, mà theo truyền thuyết là nơi các vị công chúa con vua Hùng, thường tới tắm gôi, chải tóc và tô môi. Rời Đền Giếng phía ngoài, qua một một cổng xây bằng đá, để vào Đền Hạ. Theo sử liệu được ghi chép trong Đại Việt Sử Kư Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, th́ chính nơi đây, quốc mẫu Âu Cơ của Đại Việt, một lúc sinh trăm trứng rồi nở thành trăm người con trai. Sau đó mẹ chia phân nửa cho cha là Lạc Long Quân, rồi dẫn những con c̣n lại lên núi. Phần Lạc Long Quân cũng nhường ngôi vua cho con trưởng là Hùng Quốc Vương làm vua nước Van Lang. 

            Trong Đền Hạ có chùa Thiên Quang với gác chuông, bia đá cổ, trên đó ghi khắc công đức dựng nước của Tổ Hùng. Chung quanh chùa c̣n nhiều đại thụ như thông, tùng rất lâu đời nhưng vẫn xanh tốt, thân cây vài người nối tay ôm không hết, đă nói lên sự thách thức với thời gian của cây, đồng hành là sự tồn tại của dân tộc Hồng Lạc, trong ḍng sử Việt, từ ấy đến nay. 

            Rời Đền Hạ, leo 168 bậc đá là tới Đền Trung. Theo truyền thuyết, Đền Trung là chỗ mà các vị Tổ Hùng luận bàn việc nước với triều thần, mà thời đó được gọi qua danh xưng Lạc Hầu, Lạc Tướng. Đây cũng là nơi vua Hùng thứ sáu, truyền ngôi cho Hoàng Tử Lang Liêu, là người đă trúng giải nhất trong cuộc thi, với hai thứ bánh Chưng và bánh Dầy, món ăn quốc hồn quốc tuư của dân tộc Việt. 

            Đền Trung hiện tại là địa điểm đặt TỔ Đ̀NH NAM BANG, thờ kính Mười Tám Vua Hùng. Trên cùng nơi đỉnh núi là Đền Thượng với tấm bảng vàng khắc bốn đại tự : ‘NAM QUỐC SƠN HÀ ‘.Đây chính là nới Các Tổ Hùng hằng năm tới làm lễ Tế Trời Đất và Thần Nông, Cũng tại Đền Thượng vào đời vua Hùng thứ sáu, Phù Đổng Thiên Vương tức là Thánh Gióng đă đánh thắng giặc Ân. Phía bên trái đền, có một ngôi mộ đá rất cổ kính và được mọi người tin là chốn an nghĩ ngh́n thu của Hùng Vương thứ 6. Tại đây nh́n chung quanh, có nhiều núi lớn nhỏ, với h́nh tượng rất giống bầy voi đang hường đầu quỳ chầu Tổ. 

            Trải qua bao đời, hằng năm dân tộc Việt đều củ hành giỗ Tổ Hùng rất trang trong vào ngày mồng mười tháng ba âm lịch. Đây được coi là ngày hội lớn nhất của đất nước ta, theo đó dân tộc Việt vốn là Con Rồng Cháu Tiên, qua truyền thuyết Lạc Long Quân-Âu Cơ. 

            Trong suốt thời gian tồn tại của VNCH, tại thủ đô Sài G̣n cũng có Đền Hùng để con cháu hằng năm tới làm lễ cúng giỗ. Chánh phủ Miền Nam đă có một dự án lớn, xây dựng Đền Hùng trên đỉnh nuí Chứa Chan, gần ngă ba ông Đồn, thuôc quận Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Tiếc thay chương tŕnh xây dựng bị hủy bỏ theo vận nước vào ngày 30-4-1975. Hiện nay Đền Hùng đă theo chân người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại tạm dung, v́ người Việt c̣n th́ ngày giỗ Tổ Hùng vẫn miên viễn không ai có thể xoá hay thay thế bằng một danh xưng nào khác, mà ông cha ta đă dựng lên từ mấy ngàn năm trong ḍng sử Việt : 

            ‘ Bia đá chẳng ṃn ṭa miếu cũ
            Văn Lang muôn thuở tỏ Hùng Vương ‘ 

2- QUỐC HIỆU VÀ QUỐC KỲ VIỆT NAM : 

            Theo sử liệu, th́ quốc hiệu VIỆT NAM chính thức xuất hiện vào niên lịch 1802 là năm mà Đức Gia Long đă có công thống nhất được toàn cơi sơn hà từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu, sau hơn 300 nội chiến triền miên giữa các ḍng họ Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn và Nguyễn Tây Sơn. 

            Thật ra từ thế kỷ thứ XIV, hai tiếng Việt Nam đă thấy xuất hiện trong nhiều tác phẩm lúc đó như Nam Thế Chí của Hồ Tông Thốc , Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, Du Địa Chí của Nguyễn Trải, Tŕnh Tiên Sinh Quốc Ngữ Văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.. Ngoài ra, các nhà khảo cồ sau này, c̣n t́m thấy nhiều bia đá có niên lịch ghi trước thế kỷ XVIII ở Bắc Việt. Trong tất cả các bia kư này, đều thấy có khắc hai chữ Việt Nam. Theo nhận xét của các học giả, sử gia hiện tại, th́ hai chữ Việt-Nam lúc đó, mang chung ư nghĩa rất thiêng liêng, nhằm chỉ về một nước Việt ở Nam Phương. Để đối chọi với sự mai mỉa khinh nhờn của người Tàu phương Bắc, mà suốt ḍng lịch sừ, luôn coi VN như một quận huyện bản xứ, qua danh từ miệt thị ‘ An Nam hay Giao Chỉ ‘. 

            Theo Dự Am Thi Tập của Phan Huy Chú viết năm 1792, cho biết vào năm Quang Trung thứ 5 nhà Tây Sơn, đă ban chiếu đổi quốc hiệu An Nam thành Việt Nam. Tiéc thay nhà Tây Sơn đă tồn tại trong ḍng sử Việt quá ngắn ngũi, nên việc sử dung quốc hiệu VN cũng theo vận nước trôi vào quá khứ. 

            Riêng hai tiếng VN cũng đâu có khác ǵ thân phận của dân tộc Hồng-Lạc nhược tiểu, luôn trôi nổi trong ḍng sinh mệnh lịch sử. Năm 1802 ngay khi thống nhất được đất nước, vua Gia Long đă cử Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đi sứ sang nhà Thanh, trả lai ấn phong của vua Quang Trung và xin nhận quốc hiệu cũ là Nam Việt. 

            Ta biết Nam Việt là quốc hiệu của VN thời nhà Triệu (207-111 trước tây lịch), có lănh thổ rộng lớn, bao gồm Vân Nam, Lưỡng Quảng, Hải Nam, Bắc Việt và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tỉnh phía bắc Trung Phần. Do đó, chừng nào vua Càn Long mới chịu chấp nhận. Bởi vậy cho tới năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà Thanh mới sai Tế Bá Sâm, mang quốc ấn và chiếu phong vua Gia Long, đồng thời cũng chấp nhận quốc hiệu của nước ta vào thời nhà Nguyễn là Việt Nam thay v́ Nam Việt. Tuy nhiên phải đợi tới cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng VN mới được cả trong và ngoài nước, sử dụng với tất cả ư nghĩa thiêng liêng và toàn bích. 

            Riêng về lá quốc kỳ VN hiện tại, lại càng thêm phức tạp v́ VN ngày nay đang sử dụng hai lá cờ : Đảng cọng sản quốc tế đệ tam đang đô hộ VN, được Bắc Bộ Phủ tại Hà Nội xài lá cờ máu đỏ sao vàng, nhái theo lá cờ của đảng cong sản Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến, ngoài ra c̣n xài thêm lá cờ đảng giống cờ nước VN xă nghĩa có vẻ thêm búa liềm, theo nguyên mẫu lá cờ của Liên Bang Xô Viết cũ. 

            C̣n quốc dân VN th́ chính thức sử dụng lá cờ màu vàng ba sọc đỏ, xuất hiện từ ngày 2-6-1948 cho tới tháng 7-1954, đất nước bị chia đôi nhưng chính phủ VNCH ở phía nam vĩ tuyến 17, từ Đồng Hà-Quảng Trị, vào tới Mũi Cà Mâu, vẫn tiếp tục sử dụng quốc kỳ củ của quốc dân VN. Từ sau ngày 30-4-1975, tuy đất nước VN bị cọng sản quốc tế đô hộ nhưng cũng từ đó, trên khắp mọi nẻo đường hải ngoại, hơn ba triệu ngướ Việt tị nan cọng sản, vẫn theo truyền thống của ông cha, trân quư và chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, như một biểu tượng cao quư nhất của dân tộc. 

            Căn cứ theo tác phẩm ‘ Quốc Kỳ Việt Nam ‘ của Quốc Duy Nguyễn Văn An, th́ lịch sử h́nh thành lá quốc kỳ của dân tộc, được khởi đầu từ sáng kiến của Phan Thanh Giản. Năm 1863 khi làm Chánh sứ hướng dẫn phái đoàn đi sứ sang Pháp, để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Phần là Gia Định, Biên Ḥa và Định Tường, đă bị thực dân Pháp cưỡng chiếm vào năm 1862. Khi tàu vào tới hải cảng, Pháp yêu cầu phái bộ VN treo quốc kỳ, để họ tổ chức bắn súng đại bác chào đón theo nghi cách ngoại giao quốc tế. V́ không chuẩn bị trước, nên Phan Thanh Giản phải lấy tạm chiếc khăn lụa màu vàng và dùng son đỏ viết trên đỏ bốn đại tự ‘ Đại Nam Khâm Sứ ‘.Cũng từ đó, lá cờ trên đă trở thành Cờ Long Tỉnh, tượng trưng cho Triều Đ́nh Nhà Nguyễn, với lănh thổ c̣n lại gồm Bắc và Trung Phần. 

            Ngày 16-4-1945, học giả Trần Trọng Kim được Quốc Trưởng Bảo Đại, ủy nhiệm lập Chính Phủ với nội gồm 10 Bộ Trưởng. Ngày 2-6-1945, Thủ Tướng Trần Trọng Kim quyết định chọn quốc kỳ mới cho VN. Đó là lá cờ nền vàng, ba sọc đỏ theo h́nh quẻ Ly (–-)trong kinh Dịch. Ngày 30-6-1945, Ông lại chọn bài Đăng Đàn Cung làm Quốc Thiều. 

            Tháng 2-1946, D’Argenlieu được cử làm Cao Ủy Đông Dương, mục đích tái lập lại sự đô hộ trên ba nước Việt-Miên-Lào, mà Pháp đă bĩ quân phiệt Nhật đánh đuổi khỏi vùng vào ngày 3-9-1945. Để tiến tới ư đồ bất lương tên, thực dân mưu toan nhiều lần tách hẳn Nam Kỳ của VN, để nhập vào lănh thổ Pháp , đồng thời cai trị Bắc và Trung Phần như trước tháng 3-1945. Tuy nhiên âm mưu xảo trá và nguy hiểm của giặc, lần lượt bị quốc dân VN phát hiện và chống trả, khến cho các chính phủ Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch, cũng lần lượt sụp đổ theo ư đồ thâu tóm đất đai của người Việt. 

            Ngày 8-10-1947, Nguyễn văn Xuân làm Thủ Tướng và lập nội các mới, trong đó Trần Văn Ân được cử làm Thứ Trưởng Thông Tin. Trong giai đoạn này, hầu như tất cả các vị trí thức yêu nước cũng như những đảng phái quốc gia, đều cực lực chống lại chiêu bài chia cắt Nam Phần thành một miền tự trị thuộc Pháp. 

            Nương theo ḷng dân lúc đó, cụ Trần Văn Ân qua tư cách của một chính khách kiêm Thứ Trưởng Chính Phủ, thẳng thắn đề nghị Thủ Tướng Xuân, xủ dụng danh xưng ‘ Nam Phần VN ‘, để thay thế cái gọi là ‘ Nam Kỳ Cộng Ḥa Tự Trị ‘, mà thực dân Pháp và bọn Việt Gian lúc đó đă ngụy xưng một cách trơ trẽn. Ngoài ra ông cũng đă chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho cả nước. 

            Vào thời điểm 1948, lúc đó trên lănh thổ VN đang sử dụng năm lá cờ khác nhau : Ba lá của ba kỳ Bắc-Nam-Trung, một của đạo Cao Đài và lá thứ năm của Phật Giao Ḥa Hảo. Cũng qua tài liệu dẫn chứng trên, trong Ủy Ban chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho nước VN độc lập, có Nguyễn Hữu Thiều làm chủ tịch, cùng các đại diện Đổ Quang Giai (Miền Bắc), Trần Văn Lư (Miền Trung), Nguyễn Văn Xuân (Miền Nam) cùng hai đại diện của Phật Giáo Ḥa Hảo và đạo Cao Đài. Cuộc triển lăm năm mẫu cờ tại Pḥng Khánh Tiết Sài G̣n, cuối cùng Uỷ Ban đă quyết định chọn Lá Cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, làm Quốc Kỷ của Quốc Dân và Quốc Gia VN. 

             Sự kiện lịch sử trên, về sau được Cựu Hoàng cũng là cựu Quốc Trưởng Bảo Đại, đề cập tới trong tác phẩm ‘ Con Rồng Việt Nam (Le Dragon D’Annam)’, xuất bản năm 1990. Ngày 5-6-1949, trên chiến hạm Duguay Trovin, bỏ neo trong vịnh Hạ Long. Lúc đó trên tàu có sự hiện của Quốc Trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Cao Uỷ Pháp tại Đông Dương là Emile Bollaert đại diện nước Pháp, thừa nhận nền độc lập của VN, mà quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ như chúng ta hiện tại đang trân quư trên khắp mọi nẻo đường lưu vong hải ngoại và cả trong hồn tim của triệu triệu người VN trong nước đang sống nơi xă nghĩa thiên đàng. 

            Cho nên Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ có một ư nghĩ khác biệt với Lá Cờ Máu của Cọng Sản VN, v́ nó không phải là của riêng bất cứ ai, từ Bảo Dại tới Nguyễn Văn Xuân, Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương hay Dương Văn Minh. Trong khi đó là cờ máu sao vàng, từ h́nh thức tới nội dung là tài sản riêng của đệ tam quốc tế, của Liên Xô, Trung Cộng và Việt Cộng. Đó cũng là lư do thiêng liêng mà người Việt qua mọi giai đoạn, từ trong nước cho tới cuộc sống lưu vong, vẫn quyết tâm ǵn giữ và đấu tranh để quốc tế công nhân, dù hiện nay ngươi Việt quốc gia không có lănh thổ, từ sau ngày 30-4-1975, quốc hận, gia vong, đổi đời người xuống thành chó, súc vật lên làm chánh quyền, cai trị cả nước. 

            Lá quốc kỳ VN là biểu tượng cao quư nhất trong linh hồn người Việt. Tháng 7-1954 hơn hai triệu người đất Bắc và các tỉnh miền Trung bên kia vỷ tuyến 17 v́ công nhận lá cờ vàng ba sọc đó của quốc dân, nên cắt ruột gạt nước mắt, bỏ xứ vào Nam t́m tự do dưới bóng lá quốc kỳ màu vàng. Ngày 30-4-1975 người Việt lại bỏ nước ra đi v́ không sống nổi đưới lá cờ máu của đảng cọng sản, cho tới ngày nay, lập trường chính trị vẫn không hề thay đổi. 

            Lá Cờ của quốc dân VN hiện tại, nền màu vàng, h́nh chữ nhật bề ngang bằng nửa chiều dài. Trên nền vàng, ở phần giữa là ba sọc đỏ có kích thước bằng nhau. Màu vàng của lá cờ tượng trưng cho dân tộc VN, trong cộng đồng các dân tộc Châu Á da vàng. Màu đỏ tượng trưng cho sự đấu tranh gian khổ, đẫm đầy huyết hận, nước mắt đoanh tṛng, trong suốt chiều dài của lịch sử chống ngăn ngoại xâm. Riêng Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba phần của đất nước VN. Lúc đó, chính kư giả Nguyễn Kiên Giang (tên thật Lư Thanh Cần ), giữ chức Giám Đốc Pḥng Báo Chí thời Thủ Tướng Xuân. Ông là người được chính phủ giao phó thực hiện lá quốc kỳ. Song song Thủ Tướng Xuân c̣n chấp nhận bài hát ‘ Thanh Niên Hành khúc ‘ của Lưu Hữu Phước sáng tác, lúc đó đương sự cũng như hằng triệu triệu thanh niên nam nữ VN yêu nước, đang dấn thân đấu tranh chống thực dân Pháp, trong hàng ngũ Việt Minh.. 

            Ngoài ra trong tác phẩm ‘ Việt Nam Nhân Chứng ‘, cựu tướng Trần Văn Đôn cũng có viết là chính ông ta và tướng Lê Văn Kim, là tác giả đă đề nghị thực hiện quốc kỳ và quốc ca VN hiện tại. Nhưng sự xác nhận trên, chẳng những bị cụ Trần Văn Ân là nhân chứng, tác giả cờ và quốc ca, cực lực phản đối, mà c̣n bị nhiều người gạt bỏ không tin là sự thật. Bởi vào năm 1948, Trần văn Đôn cũng như Lê Văn Kim.. chỉ là sĩ quan cấp nhỏ trong quân đội, th́ chừng nào mới tới phiên được mời vào pḥng hội, để nghị sự một vấn đề trong đại của quốc gia lúc đó, chỉ có Nguyên Thủ, các cấp Bộ Trưởng, Thủ Hiến ba kỳ và lănh đạo cao cấp của của các giáo phái .. mời được mời họp với ư kiến và quyết định. 

            Trong suốt cuộc chiến VN kéo dài gần 20 năm (1955-1975), những ai đă từng là người dân trong vùng chiến nạn, xôi đậu, bị giặc chiếm hay là lính trận chiến đấu nơi sa trường, đồn nghĩa quân cheo leo miền biên tái, những biệt chính, biệt kích cảm tử hoạt động riêng rẽ và các quân nhân bị thất lạc trong lúc đụng trận, mới cảm nhận được sự thiêng của lá cờ và bản quốc ca hùng tráng, được thổi lên khi xung trận. Quốc kỳ VN như mợt ngọn đuốc , soi đường mở lối đấu tranh cho thanh niên nam nữ miền Nam trong suốt 20 năm đoạn trường máu lệ, v́ đất nước bị cọng sản đệ tam xâm lăng cướp đoạt. 

            Có c̣n nhớ hay không những ngày tang tóc hỗn loạn của Tết Mậu Thân (1968), mùa hè đỏ lửa 1972 tại An Lộc (B́nh Long), Quảng Trị, Kon Tum, B́nh Định.. Rồi những ngày thi hành cái gọi là hiệp định ngưng bắn vào tháng 1-1973 và sau rốt là 55 ngày cuối cùng của VNCH vào năm 1975. 

            Tại chiến trường, để treo được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của quốc gia, lên Kỳ Đài Huế trong Tết Mậu Thân, trền ngọn Đồi Đồng Long (An Lộc), Ṭa Hành Chánh Kon Tum và nhất là tại Cổ thành Đinh Công Tráng-Qiuảng Trị.. đă có không biết bao nhiêu sinh mạng của lính, trong mọi binh chủng từ NQ+DPQ, Bộ Binh, Biệt Động Quân, Biệt kích Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù, đă gục ngă làm thang cho đồng đội, tiếp nối hết lớp này tới đợt khác, mới đạt được thắng lợi cuối cùng. Năm 1973, cọng sản Hà Nội qua đồng thuận của Mỹ, đóng quân trên lănh thổ VNCH theo tinh thàn hiệp ước ngưng bắn. Chúng đă cố gắng treo dán khắp nơi từ cờ lớn tới cờ nhỏ, những l1 cờ máu, khiên cho người lính VNCH, lại phải chịu nhiều thương vong, dễ bảo vệ xóm làng, dân chúng, không để mất vào tay cọng sản. 

3- TỪ QUÂN ĐỘI QUỐC GIA TỚI QUÂN LỰC VNCH : 

            Ngày 13-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, sau khi bị Hoa Kỳ , thả hai trái bom Nguyên Tử xuống hai thành phố Trường Kỳ và Quang Đảo. Lợi dụng thời cơ trên, quân viễn chinh Pháp theo quân Anh-Ấn xâm nhập VN, chiếm Sài G̣n và Nam Kỳ. Ngày 2-9-1945, nhờ lực lượng OSS (tiền thân của CIA) giúp súng đạn, nên chỉ có một nhóm rất ít cán bộ cọng sản, đă áp đảo khủng bố được đồng bào, để cướp chính quyền của quốc gia lúc đó, đang bị Pháp-Nhật và quan lại Nam Triều, quăng bỏ lăng lóc một cách tội nghiệp, thê thảm bên vệ đường tại Hà Nội, Huế, Sài G̣n. 

            Nhờ vậy, Hồ Chí Minh và đảng Việt-Cộng mới có cơ hội, cho quân viễn chinh Pháp từ trong Nam, đổ bộ lên đất Bắc, lúc đó đang do quân Trung Hoa đóng, theo lệnh của Liên Hiệp Quốc, để giải giới quân Nhật từ vỹ tuyến 16 trở ra. 

            Theo mọi nguồn sử liệu c̣n lưu trữ, th́ chính Hồ Chí Minh cùng Pháp, đả đồng thuận dựng lên một vở tuồng, trong đó Pháp đă mớm lời cho Hồ Chí Minh kêu gọi TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN chống Pháp vào năm 1946. Có kêu gọi, th́ Hồ Chí Minh và đảng cọng sản mới nhập nhằng hợp thức hoá, vai tṛ lănh đạo Mặt Trận Việt Minh và đất nước. Rồi v́ toàn dân VN nổi lên kháng chiến, nên thực dân Pháp mới có đủ lư do đem quân từ Nam Kỳ ra Bắc Việt, cũng như biện minh với thế giới về chính sách thực dân của ḿnh, trong khi nhân loại đang t́m đủ mọi cách xóa bỏ. 

            Cũng từ đó, người VN khắp mọi miền đất nước, thay v́ đoàn kết chống thực dân, lại chia rẽ thành các khuynh hướng chính trị khác nhau, khiến cho máu dân Việt lại tiếp tục đổ, để cho màu cờ của đảng cọng sản thêm rực rỡ màu máu. 

            Trong giai đoạn lịch sử này, hai Lực Lượng Quân Sự của Người Việt đă thành h́nh. Đó là Mặt Trận Việt Minh, một phong trào kkáng chiến chống Pháp, của Tập Thể Người Việt yêu nước, bị Hồ Chí Minh và đảng cọng sản đệ tam núp bóng, khống chế bằng chủ thuyết Mác-LêNin. 

            Lực lượng thứ hai gọi là ‘ Quân đội Quốc-Gia ‘, thực chất cũng chỉ là mượn màu da thay xác chết, bị thực dân Pháp và các lănh tụ chính trị áp đảo, lợi dụng.Tóm lại người Việt lúc đó, cho dù có chiến đấu trong hàng ngũ nào chăng nửa, cũng chỉ tốn xương máu vô ích mà thôi, v́ chỉ để phục vụ cho các chủ thuyết chính tri quốc tế mà thôi. 

+ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H̉A : 

            Lănh thổ VNCH được chia thành bốn vùng chiến thuật và một biệt khu thủ đô. Tính tới ngày kư Hiệp Định ngưng bắn tháng 2-1973 tại Paris, QLVNCH có 220.000 Chủ-Lực quân, gồm Mười Một Sư Đoàn Bộ Binh, mang số 1,2,3,5,7,9,18,21,22 và 25. Ngoài ra c̣n có Hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là SD.Nhảy Dù và SD.Thuỷ Quân Lục Chiến, mười lăm Liên Đoàn Biệt Động Quân (quân số tương đương với một Trung Đoàn Bộ Binh, gồm 3 Tiểu Đoàn và một Đại Đội Trinh sát) và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù thuộc Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt.. Ngoài ra c̣n hơn nữa triệu ĐPQ + NQ, Cán Bộ XDNT, Cảnh Sát, Nhân Dân Tự Vệ.. Tất cả đều quyết tâm ngắn chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng và tới lúc gần đạt được chiến thắng cuối cùng th́ người Mỹ v́ quyền lợi riêng tư đă bức tử VNCH. 

            Hai mươi năm chinh chiến, người Lính VNCH đă có 250.000 gục ngă trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh v́ một phần cơ thể đă gửi lại sa trường. Hiện nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không c̣n nửa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, th́ lư tưởng và danh dự của Người Lính , càng được sáng tỏ, trong niềm hănh diện chung của quân-dân Miền Nam. 

            Lịch sử của một quốc gia là những ǵ trung thực , mà người dân của nước đó đă ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ , xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đă không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Đă vậy, Hoa Kỳ c̣n ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, v́ lư tưởng riêng của họ.

             Thế chiến 2 kết thúc, Ṭa Án quốc tế Nuremburg, chỉ kết tội những Đầu Sỏ trong phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Đức-Ư-Nhật.. Năm 1920, Lănh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ư bắt và tử h́nh. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ư tại Bắc Phi , là người đă ở lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ư lúc đó. 

            Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lănh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đă oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng lănh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đă tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đă được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lư và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc ngh́n thu, bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đă chết cho lư tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự. 

            Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đă phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị cọng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có cọng sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự diện của người lính Miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, t́m đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia, nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen B́nh Định Nông Thôn, Cán Bộ Xă Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho cảnh ba đồng, ba cộc, của kiếp lính Miền Nam. 

            Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đă không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ c̣n bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng th́ cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lănh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về th́ bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục. 

            Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, th́ đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đă biết được sự thật cùng ư nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra c̣n có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đ́nh người dân, qua cuộc đổi đời, cũng đă trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đă công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào ḿnh. 

            Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lư tưởng,ai muốn gọi thế nào cũng đều có ư nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, th́ đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lănh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ. 

            Chính bọn trí thức thiên tả này, đă lợi dụng tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tuyền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng kư sinh của chúng. 

+ MỸ BÁN ĐỨNG VNCH CHO CỌNG SẢN : 

            Bắt đầu từ ngày 13-5-1968, Mỹ và Bắc Việt đă lén lút đi đêm với nhau tại Paris, để t́m cách đổi chác trên thân xác của VNCH. Nhưng kẻ cắp gặp bà già, nên dù hằng tuần có gặp nhau, Kissinger và Lê Đức Thọ vẫn không đạt được một thỏa thuận nào. 

            Theo tiết lộ mới đây của Kissinger, trong hồi kư ‘ The Kissinger Transcripts ‘, trong đó đă ghi chép đầy đủ về mọi mánh lới, thủ thuật của Mỹ để ve văn Trung Cộng, chống lại Liên Xô vào tháng 1-1972. Cũng theo sách dẫn chứng trên, th́ Kissinger đă làm đủ mọi thủ đoạn, để đạt cho được mục đích. Trong cuộc, VNCH là con vật tế thần, mà cặp Nixon và Kissinger đă xử dụng, nên cuối cùng dẫn tới sự chấp nhận những điều kiện phi lư, mà Hoa Kỳ dùng bùa viện trợ, ép buộc VNCH phải kư kết trong bản hiệp định ngưng bắn năm 1973. Riêng đối với Bắc Việt, mặt thật cũng đâu có hănh diện ǵ hơn VNCH, trong cuơng vị làm đầy tớ Nga-Tàu. Bởi vậy, khi Liên Xô thấy Mỹ và Trung Cộng đă liên kết với nhau, chắc chắn Tàu Cộng sẽ theo Mỹ, bắt VC ngưng bắn có điều kiện. Bởi vậy, một mặt LX viện trợ tối đa cho Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho VC mở hết mặt trận này tới chiến dịch khác, mà lần cuối cùng là ngày quốc hận 30-4-1975, đưa cả nước VN trong ba mươi năm đắm ch́m trong cảnh nghèo đói, lầm than, hận thù v́ vũng bùn ô uế của cái gọi là thiên đàng xă hội chủ nghĩa. 

            Người Mỹ đă kư kết hiệp định ngưng bắn Ba Lê, chỉ với mục đích rút quân và đem tù binh về nước, để Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống Mỹ và Kissingertiếp tục giữ chức lớn trong chính quyền Hoa Kỳ. Ngoài mục đích trên, người Mỹ không cần đếm xỉa ǵ tới tương lai cũng như số phận của người Việt, nước Việt. 

            Sau này, khi VNCH đă sụp đổ, nhiều nhân vật quốc tế liên quan tới cuộc chiến VN, đều phê b́nh sự tắc trách của Hoa Kỳ, khi dựng lên cái quái thai hiệp định ngưng bắn, để bán đứng đồng minh của ḿnh. Chính TT. Nixon cũng đă xác nhận lỗi lầm của ḿnh trong tác phẩm ‘ No More VietNam’ rằng tôi đă thấy những vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê nhưng quan trọng nhất trong thỏa ứơc này là đă không bắt buộc Hà Nội rút hết bộ đội đă xâm nhập về Bắc. C̣n M. Gauvin , đại sứ Canada tại Hy Lap, nguyên chủ tịch uỷ hội kiểm soát quốc tế (CICCS) tại VN, đă tuyên bố ‘ VNCH bi sụp đổ hoàn toàn do quyết tâm bỏ rơi của Hoa Kỳ. 

             Riêng cái hiệp định ngưng bắn kư kết tại Ba Lê năm 1973, đă không phản ảnh được ư muốn và nguyện vọng của người dân Miền Nam, là muốn sống ḥa b́nh và không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cọng sản, nên ngay từ năm 1954, họ đă phải bỏ miền bắc để vào Nam, chạy trốn VC’. Nhưng phê b́nh một cách thẳng thắn, là Sir R.Thompson ‘ Sự sống c̣n của Nam VN, đă bị người Mỹ tước đoạt hay nói thẳng là bán đứng. Có làm như vậy, Hoa Kỳ mới tránh cho nước ḿnh bị khỏi bị sâu xé tan nát. Một điều nghịch lư khác là cọng sản Bắc Việt, bị bó buộc tới bàn hội nghị, không phải để cứu họ, mà là cứu nước Mỹ. Nên dĩ nhiên Mỹ phải đem đồng minh VNCH ra bán đứng, để đền ơn cứu mạng ‘. 

            Ngoài vấn đề phủi tay tại Nam VN sau khi đă đem được tù binh và hài cốt quân Mỹ về, quốc hội Hoa Kỳ c̣n bội ước, khi liên tục biểu quyết các đạo luật ngăn cấm can thiệp bằng quân sự của Mỹ tại Nam VN, cắt giảm dần quân viện, không chịu hoán đổi quân trang quân dụng, như các thỏa ước đă kư kết . Sự bất công vô lư, đến đổi Tuỳ Viên Quân Sự (DAO), tại Nam VN, đă phải viết ‘ Người Lính VNCH do đó, đă phải chấp nhận sống với những nhu cầu, dưới mức b́nh thường, làm cho tinh thần người chiến sĩ xuống thấp, v́ bị hạn chế các phương tiên ngăn chống giặc ‘.Chỉ có Robert S McNamara, cựu bộ trưởng quốc pḥng thời TT.John Kenedy, th́ vẫn ngoan cố để chạy tội, quên hết trách nhiệm của ḿnh, trong tác phẩm ‘ In Retrospect : The Tragedy and Lessons Of VN ‘, bêu xấu và đổ hết trách nhiệm làm mất nước cho QLVNCH. 

            Sự thật, khi viết về Quân Lực VNCH, hầu hết các nhà quân sử trên thế giới cũng như các Sử Gia hiện tại của VN như Nguyễn Khắc Ngữ, Chánh Đao, Phan Nhật Nam, Ttần Đại Sỹ, Phạm Huấn, Nguyễn Đức Phương, Phạm Phong Dinh, Trần Gia Phụng, Nguyễn Lư Tưởng.. đều đứng chung trên quan điểm ca tụng tinh thần hy sinh và trách nhiệm của người lính VNCH, đối với đất nước và đồng bào. Nhờ thiện chiến, có kỷ luật nghiêm minh, biết bổn phận, nên trong suốt cuộc chiến hai mươi năm, dù lúc nào VNCH cũng bị Bắc Việt tấn công lén như Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972.. nhưng Họ đă can trường lật ngược hoàn cảnh, để chuyển thắng thành bại. Hầu hết lính và các cấp chỉ huy ngoài chiến trường, đă quyết tử trong giờ thứ 25, tới khi được lệnh bắt buông súng của Dương Văn Minh, mới chịu ră ngủ. 

            Mới đây có nhiều tác phẩm được công bố như The Pategon Papers, Fires In The Lake của Frances Fitzgeral, The Best and The Brightest của Halberstam và nhất là các hồi kư của Kissinger.. đều cho thấy từ khởi đầu cuộc chiền, đến khi tàn cuộc, cho thấy người Mỹ luôn luôn là đạo diễn chính trong thảm kịch VN. 

             Trong lúc cọng sản Bắc Việt, được Tập Đoàn Cọng Sản Quốc Tế cả Liên Hiệp Quốc, viện trợ quân sự thả dàn, th́ QLVNCH bị Hoo Kỳ qua Viện Trợ, chèn ép bắt bó tay, nên phải chiến đấu trong nghiệt ngă để sinh tồn. Theo Harry H Noyes, qua tác phẩm ‘ Herdic Allies’, với tư cach là một sĩ quan cao cấp của Mỹ , đă chiến đấu nhiều năm ngoài mặt trận, bên cạnh QLVNCH, nên đă có những nhận định rất thẳng thắn, trái ngược với mồm mép mệng lưỡi bọn nhà báo và chính trị con buôn Mỹ và tây phương. Theo tác giả trên, th́ thái độ bêuxấu hay bóp méo sự thật, nhắm vào QLVNCH, chẳng qua chỉ là sự kỳ thị chủng tộc thường thấy của bọn da trắng, lúc nào cũng tự xem ḿnh là văn minh, đứng trên các dân tộc khác. Một điều quan trọng khác, là suốt cuộc chiến đẫm máu tại Nam VN, đa số dân tây phương và Hoa Kỳ, đă bị điệp viên của khối cọng sản, củng như KGB của Liên Xô, mua chuộc hay tuyên truyền. Do đó lúc nào họ cũng có cảm t́nh với Bắc Việt, nên cứ bóp méo sự thật, để khinh bỉ VNCH. 

            Bảo rằng QLVNCH không chịu chiến đấu, trốn trách nhiệm, chỉ muốn khoán trắng cho quân đội Mỹ, kể cả sự oanh tạc Miền Bắc, là một ngang ngược và phi lư. Để trả lời, nhiều người đă hỏi ngược lại người Mỹ rằng ‘ vậy th́ từ năm 1955-1965 và cuối năm 1971-4/1975, khoảng thời gian đó, người Mỹ hoặc chưa tới hay đă rời VN, vậy ai đă chiến đấu với bộ đội Bắc Việt ?’. C̣n về vấn đề oanh tạc Miền Bắc, từ đầu tới cuối có khi nào Hoa Kỳ giao trách nhiệm cho Không Quân VNCH, cũng như chịu cung cấp cho họ các loại phi cơ chiến đấu tối tân, để chiến đấu cho có hiệu quả. Một bí mật khác, là người Mỹ dành độc quyền oanh tạc Miền Bắc, để thi hành lệnh của Hoa Thịnh Đốn, là đem gần hết số bom đổ xuống biển hay núi rừng không phải là mục tiêu quân sự cần tiêu diệt. Bởi vậy làm sao dám giao nhiệm cho KQ.VNCH ? 

            C̣n trong thời gian Mỹ tham chiến tại VN, mở các cuộc hành quân tiêu diệt cọng sản. Tất cả đều là HÀNH QUÂN HỖN HỢP, giữa quân ĐồngMinh-Hoa Kỳ và VNCH, tiêu biểu như HQ Cedar Faces tại Vùng Tam Giác Sắt (B́nh Dương-Hậu Nghĩa), đầu tháng 1-1967, tiếp theo là HQ Toledo, mục đích càn quét Chiến Khu C và Cục R, do Lực Lượng hỗn hợp, gồm Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù-Hoa Kỳ cùng 2 Tiểu Đoàn 33-35/Biệt Động Quân/VNCH đảm trách. Đặc biệt tại Điện Biên Phủ KHE SANH cuối năm 1967, vẫn có quân VNCH tham dư, đó là TD37- BDQ, thuộc Liên Đoàn 1/BDQ của Quân Đoàn I.           

            Sau cuộc chiến, để chạy tội bán đứng đồng minh, cũng như phản bội Tổ Quốc và đồng bào ḿnh, Hoa Kỳ và bọn khoa bảng-trí thức thân cộng Miền Nam, những người muôn năm trong ḍng sử Việt, được bia đời phong cho danh hiệu là ‘ TRI’ THỨC CHỒN LÙI’, c̣n các lănh tụ cọng sản như Stalin, Mao Trạch Đông, kể cả Hồ Chí Minh, coi rẻ hơn CỤC PHÂN NGƯỜI v́ suốt kiếp chẳng làm được một điều ǵ tốt hay ích lợi, để giúp cho đất nước và đồng bào. Bọn trí thức này theo chân Người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại, vẫn sống cao sang quyền thế như lúc c̣n trà trộn trong các Đại Học, Chùa-Nhà Thờ, Ṭa Báo, trên các trang sách-thơ, vẫn chứng nào tật nấy, không hề thay đổi lương tâm một chút ǵ, dù phong trần đă nếm, vinh nhục bề bề và trên hết là vẩn bám vào Người Việt Tị Nạn Cộng Sản để mà sinh tồn, dù rằng chúng đă nói là ĐĂ ĐI HẾt BIỂN nhưng lại không dám về sống với Việt Cộng, để hưởng Vinh Hoa Phú Quư, Tự Do Dân Chủ.. trong Xă Nghĩa Thiên Đàng, như chúng hằng ca tụng. 

            Chính người Mỹ và bọn trí thức-khoa bảng thân cộng này, trước sau vẫn đổ trách nhiệm làm sụp đổ Miền Nam cho các cấp lănh đạo của VNCH. Riêng sự bảo rằng VNCH không có lănh đạo xứng đáng, ngang cơ để đối đầu với cáo già Hồ Chí Minh của Bắc Việt, sau khi TT Ngô Đ́nh Diệm bị hạ sát vào ngày 1-11-1963, là điều suy nghĩ quá đáng và đâu có khác ǵ việc Mỹ nói QLVNCH không chiến đấu, mà chỉ giao hết cho quân đội Hoa Kỳ. 

            Nhưng mai mĩa nhất vẫn là lời xác nhận của Kissinger , khi cho bách hóa các tai liệu cũ liên 1uan tới chiến cuộc Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975 ) ‘ Mỹ đă chơi với Trung Cộng từ năm 1972, vậy th́ bán Miền Nam VNCH cho Cộng Sản Quốc Tế Bắc Việt, qua Hiệp Định Paris 1973, cũng đâu có ǵ lạ ? ‘ 

            Sự thật, QLVNCH từ 1960-1975, đă có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn vơ vẹn toàn. Họ được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á thời đó như Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát.. cũng như Trường Đại Học Quân Sự. 

            Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối t́nh xưa : 

            ‘..xin v́ chàng, xếp bào cỡi giáp
            xin v́ chàng giũ lớp phong sương
            v́ chàng tay chuốc chén vàng
            v́ chàng điểm phấn đeo hương năo nùng..

            ( Chinh Phụ Ngâm ố Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm) 

            Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, v́ suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận th́ chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào. 

            Thử hỏi trong cơi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Trong lúc đă có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Trong số này có rất nhiều người đang dấn thân lo chuyện non nước. Không biết trong tâm tư của họ, có một giây phút nào, do lương tâm xao động, khiến họ chợt nghĩ tới những người xưa đă VỊ QUỐC VONG THÂN ? Cũng may hầu hết người Miền Nam, xưa nay vẫn biết ơn người lính năm nào, nhất là sau ba mươi năm qua, đă biết hết cảnh đổi đời oan nghiệt. 

            Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già c̣n sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, đă và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.           

            ‘..tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
            sa trường dung ruổi đă phơi thây
            đoàn quân hùng liệt nay về đất
            hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy 

            chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
            mà khóc quê hương khuất bến bờ
            nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
            mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô..
 

            Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư đen 1975, trong khi hầu hết bọn khoa bảng trí thức, chuyên lợi dụng sự tự do dân chủ của chế độ, để phá thối đất nước miền Nam, ùn ùn t́m đủ mọi cách bỏ chạy trước ra ngoại quốc và nay lại tiếp tục pha thối cộng đồng người Việt hải ngoại, làm lợi cho VC hầu kiếm chút danh cặn tiền bèo. Trong lúc đó, th́ người lính lại chết hay bị thương, ở lại để bảo vệ thủ đô, bến tàu, phi trường, xa lộ và những băi đáp trực thăng, giúp Mỹ và hậu phương có cơ hội chạy. 

            Nay nh́n lại trong giờ thứ 25, tính sổ lại xem có bao nhiêu tướng lănh đă bỏ chạy ? Hay nói đúng hơn gần hết đă ở lại chiến đấu với đồng đội thuộc cấp, cho tới lúc tàn cuộc. Những danh tướng Lư Ṭng Bá, Lê Minh Đảo, Trần Quang Khôi, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khai Nam, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Tấn Nghĩa.. há không có phương tiện như Nguyễn Cao Kỳ, để trốn chạy ra tàu Mỹ hay sao ?Nhưng họ là quân tử thời đại, là kẻ sĩ nên coi trọng khí tiết làm tướng hôn sinh mạng một đời. V́ vậy biết ở lại sẽ chết nhưng vẫn chấp nhận hoàn cảnh, cuối cùng kẻ th́ tự tử, c̣n người bị giam cầm nhiều chục năm nơi tận cùng biên tái, làm gương muôn đời cho hậu thế soi chung, v́ hai chữ hy sinh cao quư ‘ lưu thủ đan tâm, chiếu hăn thanh ‘.

            Vậy ta thử hỏi sau ba mươi bốn năm chiến tranh chấm dứt (30/4/1975 ố 30/4/2009), kẻ chiến thắng là đệ tam cọng sản Hà Nội, đă làm được những ǵ, để mang tới phúc lợi, no ấm cho dân tộc VN ?. Trong thời gian đó, đất nước chúng ta có được độc lập tự do hay không ? Cứ nh́n kết quả mà không cần phải đơi câu trả lời. 

            Thật sự cho tới bây giờ, đất nước VN vẫn là một quê hương bị đọa đày tang tóc khổ đau. Dân chúng đại đa số nghèo đói lạc hậu. Xă hội băng hoại, kỷ cương tan nát, đạo đức suy đồi và oán thù chất ngất v́ hố phân chia mọi thành phần trong nước, càng lúc càng sâu thẳm không biết đâu mà ṃ. Trong lúc bọn cán bộ viên chức đảng nhà nước, bọn Việt gian-Việt kiều c̣ mồi, bọn tư bản đỏ trắng tại VN càng lúc càng giàu có vinh hiển tột cùng với tiền tỷ vàng kư, th́ người dân cả nước từ nông dân, người đánh cá, cho tới kẻ lạo động, gần như kiếm ăn từng bửa. Như vậy bảy mươi lăm năm qua, nói là đi làm cách mạng để giải phóng nước bị ngoại xâm. Dân bị kềm kẹp. Thế nhưng ba mươi năm ḥa b́nh, giờ tính lại sổ đời, nước vẫn bị ngoại xâm kềm kẹp, không phải chỉ có Nga-Trung Cộng mà cả khối tư bản Mỹ, Nhật, Nam Hàn, ĐàiLoan-Singapore.. C̣n người dân th́ cuộc sống c̣n thua cả thời Pháp Thuộc, nói chi tới Hai mươi năm VNCH. 

            Hơn ba mươi bốn năm đổi đời rồi, cho dù Bắc Bộ Phủ có gian ngoan xảo trá tới đâu, bọn Việt gian biển lận thế nào, th́ cả nước trong cũng như ở hải ngoại cũng đă hiểu gần như tất cả tấn thảm kịch VN, từ đó cho tới nay, chỉ do bàn tay đẫm máu của băng đảng Hồ Chí Minh và đệ tam cọng sản gây ra mà thôi. 

            Ba mươi bốn năm nói là thống nhất nhưng Bắc-Nam cũng vẫn là Nam-Bắc. Lúc nào cũng to mồm lớn miệng nói là tự do-độc lập thế nhưng mọi việc lớn nhỏ của nước, đều do bàn tay tối cao của Liên Xô-Trung Cộng, nay lại thêm bàn tay lông lá của lái súng Mỹ quyết định giùm. 

            Ba mươi bốn năm rồi, Việt Cộng vẫn là Việt Cộng dù ngày nay h́nh người có thay đổi từ quần áo vải thô sang lụa tơ gấm nhiễu. Tất cả vẫn nguyên vết như cái thuở hồng hoang mới rời hang Pắc Pó, rừng Bắc Sơn hay chui ra trong các hang Củ Chi, Vĩnh Mốc. Vẩn đảng cọng sản là trên hết, c̣n nước th́ nước xă hội chủ nghĩa. V́ vậy tất cả quốc gia đều là tài sản của đảng, của cán bộ nên cứ ngang nhiên xén bán, cầm thế, mà không cần biết tới hậu quả di hại cho con cháu và dân tộc mai sau. 

            Bảy mươi lăm năm qua, người Việt đă trăm lần ḥa hợp, ḥa giải, ḥa b́nh với cọng sản nhưng trăm lần như một, lần nào cũng bị chúng xảo quyệt, lường gạt, đâm sau lưng, mà lần cuối cùng đau đớn nhất là ngày 30-4-1975. Cho nên ba mươi năm nay, kể cả trẻ con cũng không c̣n ai tin vào sự hứa hẹn của cọng sản, trừ bọn c̣ mồi không tim óc dù đă có cả núi bằng cấp và chữ nghĩa. Bởi vậy chỉ c̣n một cach duy nhất, là cả nước đứng dậy phá tan xiềng xích nô lệ của đảng cọng sản, để đ̣i lại những ǵ mà chúng ta đă mất, trong đó quan trọng nhất là quyền sống của kiếp người. 

            Có ai trong đời không một lần phải chết nhưng trước khi nhắm mắt ĺa đời, phải làm một điều thiện cho quê hương, để khi xuôi tay nhắm mắt, không phải ngậm cười nơi chín suối hay cứ than thân trách phận v́:

            ‘ Nợ nước chưa xong đầu đă bạc
            trăm năm thân thế bóng tà dương..
’ ’ 

            Hỡi ơi đời nay, không có ǵ buồn hơn nỗi buồn nhớ nhà khi tuổi già,dù nhà và nước đang ở trước mắt ḿnh: 

            ‘ Chiều xuống quê nhà đâu đó tá ?
            Trên sông, khói sóng năo ḷng ai ..
’ ’

            (Thôi Hiệu) 

Viêt từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Mùa Quốc Hận 2009

MƯỜNG GIANG     

 

 
   

Nguồn congdongnguoiviet.fr