Một cỗ xe trâu
 

Thứ Năm, Ngày 2/4/2009

Hồi kư Đỗ Xuân Thảo

Trại tù Vĩnh Quang cách đỉnh Tam Đảo chừng ba mươi cây số đường chim bay, nhưng lại nằm ẩn trong phía trũng của một thung lũng hẹp, mà cứ mỗi mùa băo lụt nước sông Lô tràn về làm ngập lụt nguyên vùng. Muốn vô trại khách qua đường phải đi qua một chuyến phà và băng qua một con đường độc đạo. Cái tên Phà Trang trở thành địa điểm thân quen cho cả người nam lẫn kẻ bắc. Nó là đầu mối chuyên chở hàng quà tiếp tế cho các sĩ quan viên chức chế độ cũ từ Sài g̣n bị đưa ra cải tạo tại đây. Nó cũng là nơi vợ con họ dùng làm nơi ngủ trọ dừng chân sau khi vất vả trên các chuyến xe lửa, xe đ̣, xe trâu, xe thồ, xe ngựa đưa họ vượt cả ngàn cây số ra thăm nuôi chồng con tại chốn heo hút này.                                                                              Photo dongtien0.tripod

Hôm nay một sớm đầu thu, vùng đất nơi đây như chuyển ḿnh theo tiết trời se lạnh, bầu trời trong xanh của những áng mây thưa, tương phản với màu úa của những giọt nắng sớm, càng làm rơ thêm màu tím nhạt của những bụi sim rừng. Cảnh vật như tiêu biểu rơ nét cho bức tranh toàn cảnh của một vùng quê trung du với nương chè đồi cọ làm người ta liên tưởng đến các áng văn thơ tiền chiến của Thanh Tịnh, Hữu Loan từng gây xao xuyến bâng khuâng cho nhiều thế hệ người đọc. Nhưng dân t́nh ở đây họ quá quen thuộc lại khó nhọc v́ miếng cơm manh áo nên chẳng nh́n như cách của thi văn. Nói chi những người tù khổ sai bị đem ra chốn này đầu óc đâu mà cảm nhận được những đổi thay xoay ṿng của trời đất. Quanh đây mấy cô sơn nữ dân tộc người Dao đang rảo bước trên con đường đất đỏ, họ mặc váy đeo kiềng với những hoa văn rất lạ của người thiểu số, đáng chú ư là phần ngực được che bằng một dải yếm trắng không khác ǵ kiểu yếm của các cô gái Quan Họ vùng xuôi, nhưng dù ăn mặc trang sức thế nào đôi bàn chân họ vẫn để trần v́ vốn dĩ họ là những người đàn bà quen đi chân đất. Đang chuyện tṛ líu lo pha âm sắc của thứ ngôn ngữ miền cao, bỗng nhiên mấy chị em ta im bặt, lặng lẽ tẻ bước nhường đường cho một cỗ xe trâu.

Vẫn con trâu già với chú tù h́nh sự đánh xe thường ngày của trại, nhưng hôm nay h́nh như có vài nét gây quan tâm cho khách qua đường. Con trâu đôi mắt tỏ lộ buồn, mắt như nh́n vào chốn xa xăm, không cần định hướng v́ nó quá quen thuộc với con đường đất. Chú h́nh sự chẳng chú ư nhiều đến món hàng trên xe, nhưng mắt luôn để ư đến bát cơm kẹp quả trứng và nén hương thắp dở. Con trâu không phải dùng sức nhiều v́ món hàng nhẹ hơn mọi khi, nhẹ đến độ nó tưởng như đang tải chiếc xe không. Có khác mọi ngày là cỗ xe có dăm người đi theo, tay cầm dụng cụ lao động cuốc xẻng. Họ ăn mặc khác chú h́nh sự, loại đồ rằn ri của các ông lính miền Nam, đă cũ rách và có nhiều miếng vá.

Toán người rằn ri trông mặt ai cũng buồn, có người tưởng họ buồn v́ đói, kiệt sức sau một tuần lễ lao động. Con trâu già không nghĩ như vậy, họ buồn v́ cái ǵ đó. Khác với chú h́nh sự, những người này họ quan tâm nhiều đến món hàng. B́nh thường là loại hàng hậu cần cho nhà bếp nhưng kiện hàng sáng nay là loại thùng h́nh hộp với bốn tấm dài hai tấm ngắn, đóng bằng loại gỗ mới được xẻ vội từ một loại cây dễ đốn, được đóng đinh sơ sài chủ yếu chỉ nhằm đủ an toàn giữ cho món hàng bên ở trong nguyên vị trí. H́nh như trong số mấy người tù có một người cứ sụt sùi than tiếc, ông này già nhất trong đám, số c̣n lại tuổi đời trên dưới năm mươi. Cách xa mấy bước có ông mặc quần áo vàng theo sau, không phải màu vàng của các tu sĩ Phật giáo thường đi sau đám ma, mà là người cán bộ cai tù. Anh ta đi để giám quản toán tù và làm công việc chỉ đạo của một người đại diện cho trại.

Trước đó ít phút, cỗ xe trâu không xuất phát từ nhà bếp gần cổng trại như thường lệ. Con trâu phải đi sâu thêm một đoạn tới gần khu bệnh xá để nhận hàng. Hàng lên xe, cỗ xe từ từ tiến ra cổng trại. Con trâu thấy lạ là toàn cảnh khu trại hôm nay trùng ngày chủ nhật có vẻ khác những ngày thường. Trong suốt lộ tŕnh khoảng hai trăm mét, nhiều toán người tụ tập gần mỗi ô cửa, họ cố nh́n qua song sắt để như đưa tiễn một người nào đó trên cỗ xe trâu. Ai là người th́ có thể dễ dàng nhận ra, nhưng con trâu với tư duy của nó th́ chỉ thấy bỗng nhiên nó trở thành tâm điểm của một sự việc khá quan trọng khi chính nó đang dẫn đầu cỗ xe cùng toán người đi theo. H́nh như có nhiều người ngó nó, một thoáng hănh diện làm nó nhớ lại hồi trẻ, rồi chuyển bước đi với dáng đường bệ của một con trâu thời sung sức. Nhưng sao mấy người nh́n theo hai bên dẫy lán họ buồn quá, có người khóc, có người lại đứng nghiêm, tay chào kính cẩn trong tư thế của người lính, kính cẩn thật t́nh chứ không như kiểu tù nhân chào cai tù. Con trâu có thể kéo cỗ xe đi nhanh hơn, nhưng nó cố t́nh giữ nhịp độ chậm lại v́ từ đây nó nghiệm ra rằng món hàng trên xe là một thứ như dễ vỡ và được người ta tỏ ḷng trân trọng.

Cỗ xe qua cổng trại, con trâu lấy lại nhịp đi b́nh thường. Cứ theo sự hướng dẫn của chú h́nh sự th́ chuyến xe này không theo lộ tŕnh quen thuộc, mà lại vào tận sâu trong thung, băng ngang một ngọn đồi thoải, mùa này đang có hoa sim nở, nhưng màu tím của đồi càng làm cho ngày buồn thêm. Có đoạn nó phải ráng sức v́ cỗ xe qua nhiều chỗ gập ghềnh, nhiều hố trâu ḅ lở sụt do lũ lụt, phần v́ nó không muốn món hàng phải di động nhiều, nhất là đủ thăng bằng để cho bát cơm quả trứng khỏi lăn đùng trên xe.Cỗ xe ngừng lại tại một chân đồi, đất đá khô cằn chỉ hạp cho mấy bụi sim dại, do cảnh vật hoang vắng không khí cô tịch nên những người tù quen gọi nơi này là đồi Cô Liêu. Ai lên đồi Cô coi như ở lại với núi rừng và sự vĩnh viễn vắng mặt được coi là ‘lên đồi’, một từ vựng để chỉ lối thoát ly thế gian không hề tự nguyện của những người bị lưu đầy sau một thời trai trẻ chiến đấu bên tuyến phía Nam. Nhiệm vụ của con trâu đến đây là xong. Chú h́nh sự tháo ách khỏi càng xe và cho nó nghỉ dưới một bóng cây. Giờ này toán người mới khởi sự làm việc. Họ khiêng chiếc ḥm gỗ lên chỗ cao hơn, đào xới một hồi, đặt chiếc ḥm xuống, lấp đất. Trước khi lấp đất theo thủ tục của trại, một ‘lệnh tha’ được viên cán bộ chủ quản đọc lớn để bảo đảm danh tánh người tù xấu số được bạch hóa (cụm từ dân gian ‘quỉ tha ma bắt’ không ngờ lại hạp cho giây phút này). Công việc hạ huyệt hoàn tất nhanh gọn. Vài cây hương dở được cắm xuống. Toán đào huyệt được coi như nhân chứng làm vài dấu riêng trên nấm mộ để có

Xà lim trại tù cải tạo csVN

 dịp nhắn lại thân nhân người quá cố, tất nhiên nếu họ c̣n sống sót. Ông già nhất trong đám không kềm nổi xúc động khóc to thành tiếng, các người kia biểu lộ cảm xúc kín đáo hơn. Bát cơm và quả trứng trở thành phần bồi dưỡng cho chú h́nh sự, nếu cứ để đây có người đi qua họ cũng lấy. Ăn vội quả trứng, chú quay lại tra càng xe vào thân trâu, thoáng ngạc nhiên sao con trâu hôm nay biết khóc. Không phải ḿnh chú, toán đào huyệt cũng nhận ra điều này, mấy con trâu già do bản năng trời cho rất nhạy cảm, chính vậy mà dân quê miền Bắc họ quư hai loài vật trung thành lại có t́nh người là chó và trâu.

Bẵng đi một dạo, sinh hoạt trại tù đột nhiên có nhiều biến đổi, có cái xảy ra như dự trù có việc xảy đến ngoài dự kiến. Con trâu già do làm việc quá sức bỗng bỏ ăn được xẻ thịt làm bữa ăn tươi cho toàn trại nhân ngày 2-9. Chú h́nh sự bạn đồng hành của nó đă được trại tha. Toán đào huyệt cùng toàn bộ số tù từ miền nam ra nay được nhà nước cho chuyển ngược về quê quán. Họ cũng chẳng hiểu v́ đâu bảy tám năm về trước cả trăm ngàn người số phận như họ được đảng chuyển vội ra Bắc, nay cũng số người này trừ một số đă chết và được tha (mà chết nhiều hơn tha) lại được các chuyến tàu xuyên Việt chuyên chở về Nam. Viên cán bộ chỉ đạo hôm đào huyệt lên thêm một sao được cử làm trực trại.Trại tù thu hẹp quay về chức năng nguyên thủy của nó vốn là chốn giam cầm các tù h́nh sự trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Yên. Phà Trang thưa vắng. Nước sông Lô chảy xiết hơn do lượng lũ thượng nguồn đổ về. Mấy ông già chở thuê nay đă đổi nghề. Mấy con trâu trả về cho hợp tác xă. Dân xă Đạo Trù có vẻ buồn v́ từ nay họ mất nguồn đổi chác quần áo thuốc men, lại lo lắng đám tù h́nh sự sẽ gây phiền nhiễu cho ruộng rẫy của họ. Đám cai tù từ rày phải trực diện với bọn đầu gấu, đâm thuê chém mướn từ xă hội đổ vào. Nhiều người trong số cán bộ dù chức năng được dạy phải cảnh giác với kẻ thù giai cấp nay cũng nhận ra rằng những người tù miền nam chẳng phải là loại ‘ác ôn’ và vợ con họ ra thăm đều là những người tử tế, có giáo dục. Ban giám thị trại cũng chẳng cải tạo được ǵ về mặt ư thức hệ, nhưng phần nào thành công trong việc bắt họ tuân thủ qui tŕnh lao động cưỡng bách khiến nhiều người lớn tuổi trong số họ không kham nổi đă phải tuyệt đường về với người thân.

*

Hồi tưởng lại gần ba mươi năm trước, tôi vẫn nhớ như in cỗ xe trâu chở Anh lên đồi trong một ngày chủ nhật buồn tại trại giam vùng Tam đảo. Tôi với anh là hai người ngồi cùng toa trên chuyến tàu chở tù ra bắc. Lúc trên tàu, hai anh em cứ ngỡ khi rũ bỏ áo lính chấp nhận thương đau trở về đời sống dân thường, hai phe cùng gà một mẹ sẽ quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù cùng nhau vá lại giải cơ đồ đă một thời rách nát v́ bom đạn chiến tranh. Nhưng nào ngờ những người thua cuộc lại bị những kẻ thù dai bắt phải trả giá cho một thời kỳ khổ nạn - lại có máu và nước mắt - lại có sự nhân danh cho cái ư thức hệ bị xóa sổ mà lịch sử khách quan và bút mực có lương tri c̣n phải viết nhiều để đánh giá đúng mức những sai lầm của nó.

Ngồi trên xe lửa trên tuyến đường từ Vinh về Yên Bái, vừa bị nóng nực do khí trời oi ả, lại băng qua các dăy núi đá vôi, vừa thiếu không khí để thở do các toa đóng kín, anh Thụ ngồi như bất động chẳng tỏ ư phàn nàn, trong khi chúng tôi đám sĩ quan trẻ th́ chửi thề liên tục dù khát khô cả họng. Tất nhiên đối tượng bị rủa là ai th́ chỉ Bác biết. Tức nước vỡ bờ, cùi không sợ lở, lại không có cán binh quản chế (nếu có chắc họ cũng chửi thầm) nên không khí trong tàu cứ như mấy cảnh trong phim buôn bán nô lệ xuyên đại dương của Mỹ được xem hồi chưa đi lính. Có điều bọn nô lệ c̣n muốn chống cự thoát khỏi xiềng xích c̣n bọn tôi chỉ đánh vơ miệng phát ngôn cho hả nỗi ḷng.

Rồi tàu cũng đậu lại ga cuối. Trời tối mịt. Mấy ông cộng sản có cái hay là tính toán thế nào lên tàu cũng đêm xuống tàu cũng tối, khó mà tính chuyện đào thoát, xét cho cùng bóng đêm luôn đồng lơa và là kẻ đồng hành của mấy ông. Không khí vùng Tây Bắc vừa tĩnh lặng vừa dịu mát làm cho đám tù dù chưa biết số phận trôi dạt về đâu, nhưng ít ra cũng chấm dứt cảnh bó gối năm sáu ngày đêm từ Nam ra Bắc. Được cho uống cho ăn, kèm ít lời động viên ráng học tập tốt lao động tốt như mấy bài học trong nam đă nhồi sọ, đoàn tù được biên chế lại. Đây là thủ thuật đặc biệt của giới áp tải đoàn tù, xào đi xáo lại cốt để đám tù không thể kết bè kết đảng chống đối hoặc đào thoát. Nhiều anh lúc ra đi yên chí cùng hội cùng thuyền cùng ngành cùng diện, nay lạc đàn lạc đội gọi nhau ơi ới v́ trót gởi nhau mấy đồ lỉnh kỉnh từ lúc xuất quân. Quân ta quen miệng to tiếng chửi thề, khiến bọn cán binh phải la lên, 'các anh lày nại chửi tục lói lăng thiếu văn hóa!' Tôi là kẻ Bắc kỳ di cư vốn không quen nói ngọng hay văng tục nên trộm nghĩ chửi thề theo kiểu Nam bộ là một nét 'văn hóa', nghe không tục mà lại có thể ngăn ngừa cơn giận đi xa hơn. Nghe nói người công nhân họ Tôn gốc Long xuyên làm tới Chủ tịch nước mà ông vẫn c̣n tật chửi thề, nhiều người mến ông già ở điểm này.

Hai anh em tôi vốn có duyên có nợ nên không lạc nhau. Cả hai được biên chế về một trại mới được cất vội có số mà chưa có tên: trại 8. Đây là một quần thể gồm chín trại nằm sâu trong thung lũng của dăy Hoàng Liên Sơn, thuộc đất Yên Bái nơi một thời Nguyễn Thái Học đă lên máy chém, cũng là nơi Tây nó giam các nhà cách mạng gộc hồi thập niên 30, trong đó có cả mấy ông Xô-Viết Nghệ Tĩnh. Những ngày ra bắc, lao động nhọc nhằn thế nào khỏi cần phải tả, chỉ biết sau khi chặt tre đốn nứa trên rừng gần ba tháng th́ anh Thụ và tôi cùng được điều về đội nhà bếp.

Ấm thân v́ thoát cảnh nắng mưa muỗi vắt trên rừng, lại đôi khi có chút cơm cháy bồi dưỡng nên anh em tôi có phần may mắn hơn các bạn đồng tù. Anh th́ không biết sao, có thể trong lứa tuổi 50, chứ tôi th́ biết chắc có tay cán bộ cùng quê xếp ngầm tôi vào đội này, chẳng phải để làm ăng ten chỉ điểm, nhưng chỉ v́ chút t́nh đồng hương gốc đất Nam Hà. Lúc này c̣n do bộ đội quản lư, chưa phải là loại cai tù chính tông, nên tôi nghĩ quan hệ t́nh người cá biệt cũng c̣n người nọ kẻ kia nhất là tôi với anh ta có một thời sinh ra và lớn lên vùng đồng chua nước mặn.

Về đội nhà bếp, biết anh Thụ là người có thời tu xuất nên anh em có phần kính trọng (thường gọi Thầy Thụ nếu không có cán bộ gần bên) nên họ giao cho anh phụ trách chia cơm. Nói cơm cho nó oai chứ đúng ra là khoai, sắn, bo bo, bắp ngô đủ loại, cơm chỉ chừng nứa chén độn thêm mà thôi. Chẳng cần đong đếm anh chia rất đều tay kể cả lúc trời mưa củi ướt anh vẫn phân phát đúng giờ. Có điều tôi để ư anh ăn uống rất điều độ, có bữa ăn dưới tiêu chuẩn dù tiêu chuẩn người khác ăn chẳng đủ no. Anh khuyên tôi phải tập ăn ít cho quen dạ, con đường cải tạo c̣n dài kẻo lúc ra lao động ngoài khó mà chịu nổi. Anh coi vậy mà hiểu cộng sản hơn cánh di cư, anh c̣n quả quyết đừng tin vào chính sách, cứ nhớ lời ông Thiệu. Lúc đó bán tín bán nghi tôi vẫn chưa tin dù có trọng nể kiến thức của anh.

Rồi ngày tháng trôi qua, anh em nằm gần nhau nên hay tỉ tê to nhỏ. Anh vốn ít nói, dáng người trí thức nhưng trông khắc khổ, giọng nói nhỏ nhẹ tuy vẫn c̣n âm sắc miền Quảng quê anh. Anh thích tôi v́ biết tôi trong quân đội làm nghề ‘bay bướm’, c̣n anh nguyên là giám đốc của một chương tŕnh tuyển mộ trên truyền h́nh miền nam, v́ không thích phô trương nên ít ai biết mặt biết tên. Vào trại vốn có khiếu về nhạc lư, anh tự nguyện làm người cầm càng cho cái ca đoàn của tù vào dịp quốc khánh đỏ hoặc tết ta, anh bảo kệ nó có chút văn nghệ văn gừng cho đời đỡ tẻ nhạt. Tôi học ở anh trong cái nghịch cảnh vẫn t́m cái lạc quan dù đôi khi để tự lừa dối ḿnh.

Nói cho ngay anh nào biết chút văn nghệ thể thao khi vào trại cũng có ngày được sử dụng. Cứ tập dượt diễn tṛ đá banh ca hát th́ cũng nghỉ lao động được cả tuần.Trại họ cũng muốn cho tù xả sú-páp kẻo căng quá khó quản lư. Chương tŕnh văn nghệ anh hay chọn mấy bài hát đại loại kiểu Tiếng Hát Sông Lô, Mùa Thu Hà Nội, Bóng Cây kơnia... nghe không đến nỗi đỏ quá. Với lối ḥa âm đặc biệt của anh, tuy đệm bằng các nhạc cụ tự chế như tre, bương, nhôm, da trâu, thùng, loong gô... vẫn mang lại cho các khán giả bất đắc dĩ ít phút thoải mái tạm quên đi nỗi nhọc nhằn nơi rừng sâu núi thẳm. Đám bộ đội th́ cổ vũ hết ḿnh, v́ ngoài mấy tiết mục tự biên tự diễn của đám tù nhằm ngày lễ lạt th́ quanh năm bọn họ chỉ quanh quẩn với cái loa cổ lỗ sĩ phát đi phát lại mấy giọng hát the thé như ma đuổi.

Phần tôi dù không biết hát cũng trốn lao động bằng cách tham gia tiết mục ngâm thơ, chọn mấy bài của Nguyễn Đ́nh Thi, Giang Nam ca ngợi quê hương xem ra quân ta có chiều ưng ư. Sau lần diễn anh bảo tôi chú có chất giọng ấm, truyền cảm, tập hát đi. Tôi thú thực không rành nhạc lư, anh nói anh dạy cho. Đi tù cộng sản mà học nhạc nghe như nghịch lư, nhưng v́ làm ở nhà bếp, ít nhọc nhằn lại đủ no, nên giờ rảnh buổi tối anh chỉ cho tôi ở một góc tối. Đám bạn tù cười nhạo, nhưng rồi mạnh ai nấy sống chẳng muốn xía vô chuyện của nhau. Chẳng vậy mà có anh cũng học tiếng Tàu, anh chép món ăn bà Quốc việt, anh học nhẩm Kinh thánh, anh đánh cờ thế bằng trí nhớ, anh kể chuyện chưởng... Trong lúc thày tṛ chúng tôi dùng nhạc lư chỉ nhau cho qua ngày đoạn tháng ở cái nơi mà chim hót cả ngày cũng chẳng phát ra một nốt nhạc v́ chỉ có độc một loài chim 'bắt cô trói cột' mang âm hưởng một oan hồn trên núi, th́ cũng là lúc anh trải ḷng ḿnh hé lộ cho tôi ít nhiều tâm sự sâu kín của đời anh.

Anh sinh ra trong một gia đ́nh khá giả ở Đà Nẵng, gốc đạo ḍng, được ăn học chu đáo. Từ nhỏ anh đă có ư hướng đi tu để trở thành linh mục. Vào chủng viện tu lên tới chức bốn, chỉ c̣n hai năm nữa là thụ phong th́ anh được Bề Trên khuyên trở về đời. Lư do sau này anh dọ hỏi h́nh như trong gia tộc phía bên nội có người ly dị, một điều cấm kỵ đối với giáo lư công giáo. Thế mới biết dù đạo hay đời, cái lư lịch con người quan trọng thật, nhất là đi vào con đường làm cha làm thầy, làm lănh đạo chỉ huy người khác, chẳng bù cho bọn tôi cũng lư lịch trích dọc trích ngang nhưng khai đi khai lại chỉ thêm tội thêm tù.

Rời chủng viện cũng là lúc lứa tuổi động viên, anh đi Thủ Đức ra sĩ quan. Anh làm nhiều nơi nhiều ngành cho đến khi được một ông tướng cũng tu xuất kéo về làm ngành tuyển mộ lính cho quân đội. Vừa ngoan đạo, lại là người thích hoạt động hội đoàn, anh được bầu làm một chức viên chủ chốt trong khu hội những người quân nhân công giáo. Anh hoạt động tích cực đến độ Ṭa Tổng Giám Mục Sài G̣n dành cho anh một chỗ trong phái đoàn gồm hàng giáo phẩm và giáo dân Việt Nam đi Rôma yết kiến Giáo Hoàng Phao-Lồ Đệ Lục (Paul VI) vào giữa năm 74.

Kể cho tôi nghe về chuyến đi, anh vẫn không kềm nổi xúc động khi được gặp tận mắt vị lănh đạo tinh thần của cả tỷ giáo dân trên thế giới, điều mà anh có trở thành linh mục cũng chẳng được hưởng ơn phước này. Anh cho biết vị giáo hoàng rất quan tâm đến Việt Nam do cuộc chiến kéo dài quá lâu. Ngài muốn dùng ảnh hưởng của ḿnh để góp phần dàn xếp ḥa b́nh cho người dân Việt, trong đó có cả con chiên của Chúa. Trong lúc tiếp kiến, một tin mừng được chính Ngài tỏ lộ trước khi ban phước lành cho từng thành viên. Ngài nói đại để, “Chúc mừng Việt Nam! Các con sẽ có ḥa b́nh nay mai.” Ngài nói bằng tiếng Pháp v́ biết ngôn ngữ này gần gũi với người Việt. Tiếng Pháp th́ anh hiểu, nhưng ư nghĩa th́ chưa thống nhất là hai chữ ‘nay mai’. Sau này khi t́nh h́nh miền Nam chuyển biến quá nhanh anh mới hiểu quả chiến tranh có chấm dứt một năm sau và v́ sao các cha cố không có kế hoạch di cư di tản như hồi 54 mà ai ở đâu ở đó v́ Vatican đă nắm được t́nh h́nh do sự dàn xếp của các phe.

Anh không bàn tiếp về mặt chính trị nhưng điều anh muốn chia sẻ với tôi một kẻ ngoại đạo về ư nghĩa ‘phước lành của giáo hoàng’ đă ban cho anh. Theo đức tin không lay chuyển của một tín đồ ngoan đạo th́ đây là biểu tượng của sự tha tội, dù cho hoàn cảnh nếu anh có phải chết trong bất kỳ t́nh huống nào th́ phần hồn của anh coi như đă được thánh sạch mà người ta thường gọi là ‘chết lành’. Bảo sao trong những ngày được gần anh tôi thấy anh t́m được sự b́nh an và không ám ảnh v́ sợ chết trong trại hay bỏ thân trên đất bắc như đa phần anh em tụi tôi.

Anh vốn kín tiếng, không thích bàn chuyện chính trị, chỉ khi nào tôi khơi chuyện này ra th́ anh mới mở miệng than thở, “chú biết không, người Việt ḿnh ít khi nghĩ đến chuyện thống nhất, mà hay coi nhau như những kẻ nội thù. Từ ngày huyền thoại năm mươi trứng theo cha lên núi, năm mươi con theo mẹ ra khơi, rồi tích cổ Sơn Tinh, Thủy Tinh đất tràn núi lở, mẹ Việt Nam có lúc nào yên. Đến khi đi vào chính sử th́ Lư Trần lại thanh toán nhau, Trịnh Nguyễn xua đuổi nhau, Nam kỳ Bắc kỳ chia rẽ nhau, cuối cùng quốc gia cộng sản tiêu diệt nhau để ba mươi năm nội chiến từng ngày, kết cuộc bây giờ anh em ḿnh con cháu ḿnh lănh hậu quả âu cũng là do vận nước!” Ngồi nghe anh như đang lên lớp, muốn chảy nước mắt v́ thấy chí lư, nhưng cũng chỉ là những khoảnh khắc rất hiếm hoi ít khi anh mở lời thêm.

Một hôm chia cơm xong, anh được quản giáo thông báo chiều nay lên gặp cán bộ Trại, thời gian làm việc có thể kéo dài ít ngày, anh Tê khâu củi tạm thời thay thế khâu cơm. Nh́n nét mặt tôi thấy anh có phần biến sắc, anh chỉ cho tôi mấy công đoạn chia cơm, rồi bỏ về lán. Bữa trưa hôm đó anh bỏ ăn. Măi đến hết giờ lao động khá lâu anh mới trở về từ phía Ban chỉ huy trại. Một tay cầm tập giấy đựng trong b́a cứng, có vài cây bút. Một tay sách một cái gói tựa như gói quà tiếp tế. Ăn xong phần cơm chiều, họp tổ xong, cũng vẫn góc tối, thay v́ học nhạc anh bảo tôi tạm nghỉ ít hôm. Anh mở cái túi sách, trong đựng một gói trà búp, một bánh thuốc lào và kư đường trắng. Anh không biết hút, anh bảo tôi chia đều số thuốc lào cho đội nhà bếp, trà pha uống chung, c̣n đường anh với tôi mỗi người một lạng, chỗ c̣n lại nhờ tôi chuyển cho mấy anh đang bị ốm bên đội khác. Tôi tưởng anh được tiếp tế, v́ đă có tiền lệ này đối với vài anh em có người thân đi cách mạng, nhưng anh nói ngay có cán bộ ở Cục về làm việc, họ bồi dưỡng cho anh để khai báo cho tốt. Khai báo điều ǵ anh không nói, nhưng coi bộ nghiêm trọng, phải động năo và kéo dài nhiều ngày.

 

Cán bộ Cục quay về Hà Nội hẹn khai xong họ sẽ xuống, trước khi về họ trao cho anh xem hai tấm h́nh khổ lớn, một chụp chung với vợ con, một chụp chung với viên cố vấn Mỹ. Anh nhận ra ngay hai tấm h́nh để nơi văn pḥng của anh, khi Dương Văn Minh kêu gọi buông súng anh chưa kịp thu dọn. Họ giữ lại một tấm, trao lại tấm h́nh vợ con cùng khuyên anh khai báo cho tốt để có dịp về sum họp với 'chị và các cháu'. Tôi biết anh quí nhất là bức h́nh, anh định cất ngay vào tập giấy, nhưng tôi lại đ̣i xem (về sau mới thấy ḿnh vô duyên). Nh́n h́nh phải công nhận chị đẹp, ba cháu kháu khỉnh có thể chụp đă khá lâu, nay bỗng trở thành vật đánh cược cho một cuộc khai báo. Anh cũng được cán bộ trấn an là chuyện của anh có tội là với đảng với nhân dân, không ảnh hưởng ǵ đến vợ con anh.

Mấy tuần sau anh âm thầm làm việc, cứ cuối tuần anh lên nộp

 ‘bài’, lấy thêm giấy về viết tiếp, viết ǵ vẫn không nói. Những bữa sau trông anh có vẻ thoải mái hơn mấy bữa đầu, thấy anh vui tôi nhắc khéo anh khai báo cho lẹ c̣n về chia cơm chứ tôi nhắm bộ không kham nổi, mấy bữa phát chậm bị kiểm điểm xém ra khỏi nhà bếp. Sau này xong công chuyện, anh mới cho tôi hay là lẽ ra có thể xong sớm hơn, nhưng cán bộ họ hay nghi ngờ sớm quá không nên mà trễ quá họ cũng biết, tốt hơn cứ câu giờ thêm ít ngày vừa được coi là thành khẩn, lại được nghỉ lao động.

Cán bộ Cục xuống nhận bài, hỏi thêm ít chi tiết, biểu dương anh về thái độ cộng tác, c̣n cho biết thêm họ mới ghé thành phố HCM gặp vợ con anh, chị và các cháu sinh hoạt tốt, có nhắn anh học tập tốt để mau về sum họp với gia đ́nh. Nội dung khai báo dù thân t́nh anh vẫn không tỏ lộ cho tôi, bản thân tôi cũng chẳng muốn t́m hiểu, nhưng cứ theo sơ yếu lư lịch khi đọc ở tổ th́ anh đă có thời làm công tác t́nh báo chiến lược từ hồi Pḥng nh́ của Pháp chuyển sang quân đội miền Nam sau này nên anh phải biết nhiều về các mạng lưới t́nh báo kể cả các đường dây ăn ra Bắc, chắc Hà nội họ muốn kiểm chứng qua cá nhân để bảo đảm phù hợp với những thông tin trên tài liệu, nhất là thời gian hợp tác với Mỹ. Thật sự chiến tranh nay đă chấm dứt, chuyện cảnh giác là phần của họ chứ về cơ sở hoạt động th́ đă giải tŕnh giải thể từ lâu, v́ vậy mà tôi thấy anh không có ǵ căng thẳng khi khai báo, nhưng nh́n nhận anh có trí nhớ dai viết ǵ mà cả mấy chục trang mỗi ngày và càng phục anh trông hiền lành mà có thời đă làm trùm quân báo!

Chúng tôi ở nhà bếp không lâu, mấy tháng sau do t́nh h́nh biên giới căng thẳng, các trại viên được tái thanh lọc để chuẩn bị cho các đợt di chuyển xuống miền xuôi. Anh em tôi thuộc diện trọng điểm được giao cho công an Vĩnh Phú và trở thành ‘phạm nhân’ cứ theo lối xưng hô khi báo cáo xuất nhập trại của các đội trưởng lao động khi về trại mới. Được biên chế theo tuổi tác, anh về đội tăng gia trồng chè, tôi về đội cầy làm ruộng, hai anh em chấm dứt sinh hoạt chung. Khi các đồi chè đến kỳ thu hoạch th́ anh Thụ lại có duyên với củi lửa được giao đứng bếp sao chè, số lượng chè búp sao xong bán cho hợp tác xă mang lại nguồn lợi nhuận khá lớn cho trại. Mấy năm đầu, anh cũng ấm thân do được bồi dưỡng đúng mức, nhưng về lâu về dài anh bị mất sức v́ đứng liên tục bên ḷ có lúc gặp thời vụ cả chục tiếng mỗi ngày. Bàn tay gầy guộc lại phải xoa đều trên chảo gang với ánh lửa liu riu, đông cũng như hè làm cho người khô da héo ăn uống dù được suất cơm trắng với chút mỡ heo nhưng nuốt cũng không trôi. Cán bộ trại họ lại tin anh, vừa thật thà vừa tay nghề quen, giao cho h́nh sự th́ sợ ăn cắp v́ chè búp là vật dễ đổi chác lấy thuốc lào và thực phẩm. Anh bạn tôi lại ít nói, ngại phàn nàn nên thân tù cứ tiếp tục bị khai thác, chính vậy mà khi ngă bịnh dễ mất mạng sau này.

Chuyện ǵ đến nó phải đến, một hôm tôi nghe phong phanh anh lên nằm bệnh xá. Gọi là bệnh xá, nhưng không có y sĩ, thuốc trị xuyên tâm liên và thuốc nam là chính, nhưng có một y tá giúp việc gốc trợ y người cùng phe ta thường liên lạc trao đổi thuốc men giữa ṿng anh em, nên cứu được nhiều người, nặng nhất là hai bệnh kiết lỵ và sốt vàng da thường có số tử vong khá cao. Anh rơi vào bệnh kiết lỵ, tuy ăn uống rất cẩn thận, ít khi cải thiện linh tinh như tụi tôi, nhưng do ruồi muỗi hoặc thực phẩm của trại th́ số trời kêu ai nấy dạ. C̣n may cho anh, nhờ anh em thương mến đă gởi thuốc cho nên cơn bệnh có dứt sau gần hai tuần lễ nhưng người gầy đét v́ mất nước mất sức.

Một buổi sáng trong giờ khám bệnh từng đội, tôi được anh y tá dúi cho mảnh giấy nhầu nát. Lao động về tôi dở ra coi th́ có mấy ḍng nguệch ngoạc viết theo kiểu như điện tín, “chú Tê/ anh mới bị kiết lỵ/ rất thèm đường/ chú gởi cho anh/ cám ơn chú”. Đây cũng là điềm lạ v́ anh vốn khí khái không bao giờ chịu xin của ai, anh em nào có quà cáp mời anh chỉ ăn một chút lấy thảo, không bao giờ nhận thêm. Anh đúng là có căn tu hay sống ép ḿnh, khác hẳn với đám chúng tôi kiếm được thứ ǵ cũng cho vào bụng cốt để mưu sinh.Tôi như sởi tấm ḷng v́ được anh tin yêu, vội gói ghém ít đồ chuyển lén cho anh yên chí anh sẽ sớm b́nh phục.

Nhưng chuyện đời khó đoán, ít ngày sau anh vĩnh viễn ĺa đời. Qua y tá kể lại anh nhờ nhắn về gia đ́nh ‘anh chết lành’. Nhóm từ này đối với tôi không có ǵ xa lạ v́ nó là đức tin bất biến của anh, nhưng cứ làm tôi trăn trở theo lối suy nghĩ đời thường khi thấy một người có ḷng, đạo đức trong lối sống lại phải bỏ thân trong chốn lao tù. Tấm h́nh chụp với chị và ba cháu nghe nói anh đă ôm vào ḷng trước lúc tắt hơi, âu cũng là chút an ủi cho một người mà tôi biết chắc luôn lấy gia đ́nh làm t́nh yêu, niềm tin là lẽ sống. Cứ tiếc một điều nếu đừng bỏ anh em đi sớm th́ chỉ ít lâu sau chúng tôi lại cùng nhau đáp chuyến xe lửa quay ngược về nam, cũng con tàu bít bùng với chiếc c̣ng hai người chung một, nhưng lần này sẽ đưa anh qua vùng đất Quảng và nhiều cơ may được nh́n mặt vợ con anh.

Đỗ Xuân Thảo

 

 

 

Nguồn .nguoi-viet.com