Lê Minh Hà
- Viết riêng cho Người Việt
LTS: Nhật báo Người Việt xin giới thiệu loạt bài viết dưới
dạng ký sự của nhà văn Lê Minh Hà trong chuyến cùng gia đình
đưa người con trai lần đầu về thăm Việt
Nam.
Lê Minh Hà, hiện đang sinh sống tại Ðức, sẽ ghi lại những
điều “mắt thấy tai nghe” tại Việt Nam, và sẽ gởi đến quý độc
giả những ghi nhận ấy trong suốt chuyến hành trình kéo dài
một tháng cùng gia đình.
Bài viết có tựa đề “Ðất nước này chưa bao giờ mất bởi nhân
dân” cũng là bài cuối của loạt ký sự nhiều kỳ. Nhật báo
Người Việt xin chân thành cảm ơn nhà văn Lê Minh Hà đã gởi
bài cộng tác, đồng thời cảm ơn độc giả đã để tâm theo dõi
loạt bài này.
Người Việt
...Con tôi chưa biết rằng đất nước này chưa bao giờ mất bởi
nhân dân. Song, khi mặt trời nhảy lên từ chân sóng, nó đã
thấy, ngay chỗ nó đang nhào theo con nước thủy triều rút dần,
mấy người đàn ông dầm mình dưới nước đẩy te và những mẻ lưới
buồn cất lên, óng ánh trong nắng sớm, trống rỗng. Nó đã thấy
trên bãi cát những chiếc thúng úp sấp, những người đàn ông
đàn bà đêm xuống lại lầm lụi xách theo cái đèn chai, lên
thúng ra biển câu mực. Nó đã biết, con mực nhảy buổi sáng
sớm nhà hàng hấp cho nó ăn là công sức cả đêm của những
người dân nơi này. Một trăm năm chục ngàn, cô chú ấy kiếm
được một trăm năm chục ngàn một đêm mẹ ạ. Nhưng còn những
ngày mưa bão, với lại mùa nghỉ Hè ở biển coi như cũng qua
rồi. Nơi này nơi kia, nó đã thấy và đã biết làm người Việt
nhọc nhằn thế nào. Với tôi, đó là thành công lớn nhất của
lần quy cố hương này.
Thằng con tôi tủm tỉm khi chúng tôi tính ghé thăm Nghệ An.
Phải giải thích cho thằng bé vốn dị ứng nặng với những trò
tuyên truyền của chế độ phát xít mà nó cực kì am hiểu rằng,
và rằng...
Ðường sang Nam Ðàn Hưng Nguyên vẫn là một kiểu đường tỉnh
hóa. Khác chăng, huyện mà có cả quảng trường và biểu ngữ thì
to và nhiều như biểu ngữ ở thành phố. Pano tuyên truyền cao
như một bức tường dựng sát đường bên cạnh pano quảng cáo “ẩm
thực dinh dưỡng” cao không kém. Tiến bộ hơn nhiều nơi, ở đây,
lần đầu tôi thấy một khẩu hiệu xem được: “Tiền thuế để phát
triển giáo dục.”
Xe lao qua con đường ràn rạt hàng quán nếu không phải tiệm
ăn thì xanh xanh đỏ đỏ toàn đồ Tàu. Biệt thự xây cách nhau
cả thửa ruộng nước, rất đẹp và tôi chợt nghĩ rằng đất này
nhiều khả năng đẹp hơn Hà Nội nếu quy hoạch đô thị được tôn
trọng. Cậu tài xế bảo chủ các biệt thự này thường cũng là
chủ nhiều ngôi nhà khác ở Hà Nội hay Sài Gòn. Còn ông anh rể
tôi thì cười cười: “toàn nhà rỗng. Ðược tiền đền bù giải tỏa
bỏ hết vào xây cái biệt thự, rồi chạy ăn từng bữa toát mồ
hôi ấy mà cô.”
Ðất nước sẽ về đâu, cả với khả năng hoài nghi tuốt tuột của
những người trẻ tuổi. Gặp lại học trò cũ nay đang kháng cự
tuổi bốn mươi, tôi mừng, vì học trò khôn hơn mình, không để
bị vướng vào vòng văn chương dấm dớ, nhưng lại lo lo, chắc
cũng là theo quán tính của nghề giáo dở dang thôi. Có học,
giỏi nghề, giàu, nhưng có cảm giác họ không tin vào cái gì
ngoài may mắn. Cô bí thư lớp cũ của tôi, nay là phó tổng
biên tập một tờ báo nhiều thế lực nhưng chẳng ai xem nhất
định mang “người đàn ông hi vọng là cuối cùng của đời em đến
gặp cô,” kể dự định sẽ cho hai đứa con với người chồng (vừa
li dị) sang Mỹ học. Cô lớp trưởng, nửa đời lận đận, vừa gá
nghĩa với cựu tùy viên quân sự sứ quán Mỹ tại Việt Nam và
tôi biết hạnh phúc mới của cô sẽ song hành cùng nỗi cô đơn
khi theo chồng luân chuyển từ đất nước này sang những đất
nước khác. Một cô khác, cao như người mẫu và xinh hơn, vừa
cập tuổi ba nhăm, đến thăm tôi ngay trước ngày tôi đi, kể
chuyện mới trở lại với chồng, “nhưng em không yêu cô ạà công
việc là mối quan tâm lớn nhất của em sau hai đứa con.” Cô là
luật sư, chuyên sâu về buôn bán bất động sản và tham gia vào
rất nhiều dự án của chính phủ. Cô cho biết dự án nào thì 50%
giá trị cũng phải chia cho quan chức và cũng vì thế mà rất
nhiều quan ông quan bà phải nhờ tới cô. “Em sẽ cho con em ra
nước ngoài, nhưng cho đi sớm thì xót quá.” Nếu nói đủ đầy là
hạnh phúc thì họ đang hạnh phúc. Nhưng, “hạnh phúc đôi khi
rất buồn phải không cô?” (trích từ e- mail tôi mới nhận được
của một trong số họ).
Ðủ đầy thì thỏa mãn, nhưng buồn. Thiếu đói thì buồn tựu hết
vào chữ khổ. Bao nhiêu phần trăm dân Việt Nam còn đang là người khổ? Sẽ không
thể thấu hết những cảnh đời nhọc nhằn nếu chỉ nhìn và thú vị
trước cảnh, giả dụ, chú bé chăn bò trên bãi tha ma bìa làng
rút điện thoại di động gọi cho mẹ đang “trên từng cây số”
bán hàng rong, hay cô bán chuối đầu ngõ chợ nhà tôi hai tay
hai điện thoại vừa chửi nhau tưng bừng với ai đó vừa ngọt
ngào dặn chồng đi làm về gọi dịch vụ mang cho bình ga mới.
Ðấy là cuộc sống tôi không muốn sống, nhưng mãi mãi thiết
thân. Quặn lòng một nỗi xót xa, không biết dành cho ai nữa,
hay cho chính mình, khi bay trên bầu trời tổ quốc. Không
phải vì ra đi, mà vì những gì để lại, vì sự bất lực của mình,
của chữ, của những điều hằng đeo đuổi, cưu mang. Chồng tôi
đọc ra vị của vợ, mỉm cười. Thằng bé lớn nhìn mẹ, bình luận
“mặt mẹ buồn như nông dân vào bệnh viện,” rồi tự đắc hỏi
thân sinh, “Con nói thế có đúng là người Việt Nam
không?”