DỐI TRÁ

 

Tôi... nh́n tôi trên vách, ôi sao oanh oanh liệt liệt quá.Gia đ́nh tôi luôn cố gắng duy tŕ được bữa ăn tối chung với nhau. Nửa giờ tuy ngắn ngủi nhưng quư giá v́ đó là thời gian duy nhất trong ngày mọi thành viên trong gia đ́nh đều có mặt. Ăn đượcmiếng cơm ngon, chung quanh bàn cơm có ông bà, vợ chồng, con cái quây quần, chuyện tṛ vui vẻ là điều thú vị nhất trong một
ngày.Một buổi cơm tối như thường lệ, đang khi vợ chồng con cái chuyện tṛ rôm rả th́ chuông điện thoại reo. V́ ngồi gần giá điện thoại nên tiện tay tôi bấm nút phóng thanh trên phôn (speakerphone) để trả lời. Thường th́ tôi chẳng bao giờ bốc phôn trong bữa ăn v́ “trời đánh c̣n tránh bữa ăn” huống ǵ một cú điện thoại vẩn vơ, trừ trường hợp nh́n thấy tên của người thân hiện ra trên khung cửa điện thoại. Thế mà hôm đó không hiểu tại sao tôi lại nhấn nút phôn để nói chuyện với một
người xa lạ, một nhân viên chào hàng. Để kết thúc câu chuyện nhanh chóng, tôi
vội trả lời là tôi chỉ là người ở trọ khi anh ta nói muốn nói chuyện với chủ
nhà. Anh chàng Mỹ lịch sự nói cám ơn và cúp máy. V́ bật nút phóng thanh nên cuộc
đối thoại cả nhà đều nghe rơ. Ngồi xuống ghế, tôi b́nh thản tiếp tục bữa ăn và
bất chợt một trong hai đứa con tôi, lúc đó mới 10 tuổi, cất tiếng phê b́nh: Bố
nói dối.Tôi chưng hửng. Ngừng ăn, tôi ngẩn người và chợt nhận ra con tôi nói đúng. Tôi
đă nói dối. Thật không ngờ chỉ v́ muốn chấm dứt một chuyện không đâu mà tôi đă
làm gương xấu trước mặt con cái. Tôi vội giải thích cho nó hiểu là lời nói dối
của tôi không làm hại ai cả mà chỉ muốn chấm dứt câu chuyện một cách lịch sự,
thế thôi. Tôi c̣n giải thích thêm, nếu lời nói dối mang sự thiệt hại đến cho kẻ
khác th́ mới có tội. Thằng bé ngồi trầm ngâm một lúc suy nghĩ về lời giải thích
của tôi, rồi sau cùng nó buông thơng: bố vẫn nói dối. Có lẽ trong đầu óc non nớt
của nó chưa hiểu được thế nào là lợi, thế nào là hại nên nó vẫn không chấp nhận
lời giải thích (yếu ớt) của tôi. Đối với những đứa bé, hoặc là trắng, hoặc là
đen, không có màu xám. Chân lư chỉ có một, không thể nửa vời. Nói dối, hoặc nói
thật chứ không có luật trừ rằng đôi khi được nói dối.

Ngoài việc đứa con dạy tôi một bài học thật bất ngờ, tôi nghiệm ra rằng nền giáo
dục ở Mỹ đă hun đúc trong tâm trí đứa bé phải biết tôn trọng sự thật và phải bảo
vệ sự thật bằng mọi giá. Lời kết luận (kiên quyết) của đứa con là một bằng chứng
hiển nhiên. Trường học Mỹ không có môn Công dân Giáo dục nhưng bài học vỡ ḷng
(nhất là các trường đạo) từ thuở mẫu giáo là luôn luôn nói thật. Nhà trường
khuyến khích và đề cao việc tôn trọng sự thật. Câu chuyện cậu bé Washington lỡ
chặt găy cây đào và thú nhận với ông bố có đứa trẻ nào mà không biết. Câu chuyện
tiếp tục rằng sau đó cậu bé Washington phải nhận lấy một h́nh phạt v́ tội chặt
găy cây cho dù đă thú tội (nói thật). Như thế, cho dù sự thật mang đến thiệt hại
cho chính bản thân nhưng vẫn phải tôn trọng sự thật. Có thể đây chỉ là một huyền
thoại nhưng một bài học luân lư như thế thật đáng truyền tụng. Không riêng ǵ ở
Mỹ, những đứa bé lớn lên ở bất cứ nơi nào trên thế giới này, kể cả những nước
nghèo đói thiếu ăn như ở Phi châu, đều được dạy dỗ về sự thành thật.

Trước 75, những bài học luân lư trong cuốn Quốc văn Giáo khoa thư được giảng dạy
trong suốt những năm ở bậc Tiểu học. Tôi c̣n nhớ rơ chuyện cái cân kể về một
người buôn bán gian dối, làm một quả cân rỗng ruột dùng để cân khi bán và một
quả cân nặng hơn b́nh thường dùng để cân khi mua. Có lần người này bổ quả cân ra
và thấy ở giữa có một cục máu. Đồng tiền kiếm được qua việc mua rẻ bán đắt một
cách gian dối là tiền máu.

Nói đến gian dối là nói đến lừa đảo, bịp bợm. Luân lư Giáo khoa thư cũng khuyên
không nên nói dối dù rằng chẳng hại đến ai. Chuyện cậu bé giả có cháy nhà lừa
gọi những người hàng xóm chạy đến giúp rồi lăn ra cười. Họ bị lừa nhiều lần nên
khi cháy nhà thật chẳng ai đến giúp và kết quả là cả căn nhà bị cháy rụi.

Những đứa trẻ ở miền Nam trước 75 đều được dạy dỗ về sự thành thật, ḷng hiếu
thảo, yêu người…v..v… C̣n xă hội ngày nay ở Việt nam dạy cho con trẻ thuở cắp
sách đến trường thế nào? Ban đầu, hào khí chiến thắng của những người cộng sản
nhẫn tâm gạt bỏ mọi tinh hoa giáo dục của miền Nam. Những cuốn sách giáo khoa,
sách văn học, khảo cứu nằm lăn lóc ở vệ đường bán sỉ nh́n thấy thật đau ḷng.
Tôi có người d́ họ ở ngoài Bắc chưa bao giờ gặp mặt, chưa một lần nói chuyện. Cả
hai d́ cháu chỉ biết nhau qua thư từ. Đó là một phụ nữ hiểu biết, tốt nghiệp
khoa Văn tại Hà nội. Cả tủ sách văn học của tôi bỏ đi th́ uổng quá, mà giấu măi
không được với những tên công an khu vực i-tờ nên tôi chuyển hết ra Bắc cho d́.
Dĩ nhiên phải chuyển lén v́ là đồ quốc cấm. Người d́ rất cảm kích về những tác
phẩm văn học nghệ thuật này, nhất là những truyện dịch của Leon Tolstoi. Để trả
lễ, d́ biếu lại tôi cuốn Triết học Mác-Lênin dày cộm (sic). Những kẻ ngồi ở Bắc
bộ phủ vào khoảng thời gian đầu mất nước mang nặng đầu óc của một Mao trạch Đông
và có hành động cuồng dại của một Tần thủy Hoàng. Cái hào khí chiến thắng của
một đạo quân từng đánh bại hai đế quốc Pháp và Mỹ (sic) đă đẩy những kẻ với
tŕnh độ sơ cấp lên trên hẳn đồng bào miền Nam bại trận. V́ thế, những cuốn sách
văn học nằm ngổn ngang từng đống ở vỉa hè là điều dễ hiểu. Những bài học luân lư
căn bản trong cuốn Giáo khoa thư cũng mang chung một số phận. Những câu chuyện
vỡ ḷng về luân lư dạy cho cả một thế hệ bé thơ hoàn toàn bị loại bỏ khỏi chương
tŕnh giảng dạy ở bậc Tiểu học và thay vào đó bằng những bài học dạy về ḷng căm
thù giai cấp đọc nghe đến lố bịch. Có lẽ không một nước cộng sản nào hiện hữu
trên trái đất này lại nhẫn tâm gieo vào đầu óc trẻ thơ những tư tưởng giết người
như ở Việt nam.

Xét cho cùng, họ dẹp bỏ là phải v́ những tư tưởng gói ghém trong cuốn Luân lư
Giáo khoa thư hoàn toàn trái ngược với lư thuyết căn bản cộng sản. Đối với chủ
thuyết cộng sản, sách lược là bạo lực, chiến lược là dối trá được che dấu khéo
léo dưới danh từ tuyên truyền. Làm ǵ có thành thật đối với những kẻ ngồi trong
Bắc bộ phủ. Bởi thế, dạy cho người dân thế nào là ngay thẳng th́ chẳng khác nào
họ tự bôi phân lên mặt họ. Chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tương tàn có “chính
nghĩa”, mà măi cho đến bây giờ họ vẫn vinh dự (hăo) về cuộc chiến chống Mỹ, đảng
cộng sản đă nhồi nhét trong óc đồng bào miền Bắc – kể cả những trẻ thơ – về một
miền Nam sa đọa, khổ sở trong nghèo đói, tha hóa trong trụy lạc, lạc hậu về kiến
thức, và kiệt quệ về kinh tế. Mới đây, một cán bộ (thức tỉnh) miền Bắc kể lại
trên mạng (viet.no) rằng trong thời gian cao trào chống Mỹ Ngụy, theo tài liệu
học tập từ trung ương đưa xuống th́ tại miền Nam số lượng đàn bà làm đĩ lên đến
hàng trăm vạn. Bây giờ ngồi so sánh con số mà đảng đưa ra th́ vào thập niên 70 –
với số dân 17 triệu toàn miền Nam – phần lớn đàn bà con gái ở phía bên kia vĩ
tuyến đều phải bán trôn nuôi miệng; như thế mới phù hợp con số đảng đưa ra. Ông
ta chua chát kết luận, con số đảng tuyên truyền thời đó hiểu ra (khá trễ) là
phóng đại nhưng lại đúng với sự thật vào đầu thế kỷ 21 tại Việt nam.

Đảng cố t́nh nhào nặn ra một h́nh ảnh bệnh hoạn về miền Nam và đẩy mạnh công tác
tuyên truyền hiệu quả đến nỗi cả miền Bắc bỗng thấy việc giải thoát đồng bào
miền Nam khỏi ách nô lệ của đế quốc là một nhiệm vụ phải làm; chỉ v́ đó cũng là
đồng bào máu đỏ da vàng cả. Tầng lớp thanh niên thiếu nữ hăng say lên đường đi B
để làm cái công việc giải phóng “cao cả” đó. Thế là một chiến dịch dối trá vĩ
đại được h́nh thành ngay trong thâm cung của Bộ Chính trị và được tuyên truyền
học tập rộng răi trên khắp cơi miền Bắc. Trong suốt 21 năm, từ 1954 đến 1975,
toàn bộ nhân dân miền Bắc từ hạ tầng đến thượng tầng cơ sở (trừ những kẻ đẻ ra
chiến dịch nói dối) đều tin tưởng tuyệt đối rằng đó là những sự kiện có thật.
Dân chúng ở hậu phương c̣n được dạy bảo phải thắt lưng buộc bụng, hạt gạo bẻ làm
ba; một để lại miền Bắc, một đem vào miền Nam, và một giúp đồng bào Lào và Cao
miên. Thật tội cho đồng bào ở miền Bắc, họ cống hiến tất cả bầu nhiệt huyết, hy
sinh đến tận cùng những t́nh cảm riêng tư, để phục vụ cho một chiến dịch giải
phóng bắt đầu bằng một sự lừa bịp vĩ đại. Phải nói là vĩ đại, v́ chính những mỹ
từ này mà biết bao thanh niên thiếu nữ phải sinh Bắc tử Nam.



Nhà Cô



Nhà Cháu



Nhà Bà...



Thiệt thua cái trống trong nhà bác Phiêu!

Cho đến ngày 30/4/1975, khi bước vào một miền Nam hoa lệ, thành phố sầm uất, dân
quê chất phác sống khá sung túc, trẻ con lễ phép (nhờ những bài học vỡ ḷng
trong cuốn Luân lư Giáo khoa thư), th́ những anh bộ đội mới vỡ lẽ ra là những
điều họ được học tập trái ngược với thực tế. Những người cộng sản tuy (may mắn)
chiếm được miền Nam nhưng đồng thời bộ mặt xảo trá của Bộ Chính trị lộ nguyên
h́nh. Thường th́ khi biết bị lừa, tâm lư chung của con người là cảm thấy tự ái
bị tổn thương, uất hận và đâm ra oán ghét kẻ lừa bịp. Phải dùng chữ uất hận v́
cả một thời thanh xuân đă bị chôn vùi dọc theo rừng Trường sơn; một phần thân
thể bị bỏ lại chiến trường B; những ước mơ tầm thường của một đời người cũng bị
hy sinh đến tận cùng.

Có hai biến cố để thử lửa thế hệ thanh niên Việt nam, kể cả giới trí thức. Thứ
nhất là biến cố 30 tháng 4, 1975 khi họ khám phá ra một miền Nam hoàn toàn trái
ngược với sự tuyên truyền của đảng. Biến cố này chỉ liên quan đến thanh niên
miền Bắc. Thứ hai là ngày 9 tháng 12, 1991 khi thành tŕ Sô-viết chính thức tan
ră, cáo chung một chủ nghĩa cộng sản không kèn không trống sau gần ¾ thế kỷ gieo
rắc bao kinh hoàng cho nhân loại. Biến cố này liên quan đến thế hệ trẻ của cả
nước. Cả hai biến cố này xác định rơ rệt ai là kẻ nói dối và ai là kẻ bị lừa.

Bị kẻ khác lừa mà không biết là bất trí. Khi biết bị lừa mà không có phản ứng
(dù tiêu cực hay tích cực) là bất lực. Con người Việt nam không thể bất trí.
Nhân dân Việt nam không bao giờ bất lực. Thế mà khi bộ mặt xảo trá của đảng cộng
sản bị phơi bày vẫn không thấy một phản ứng – cho dù nhỏ nhoi – của bất cứ thành
phần nhân dân miền Bắc nào, kể cả những kẻ mang danh là kẻ sĩ, gồm cả các giáo
sư, bác sĩ, học giả..v..v.

Phân tích cho kỹ hiện tượng thụ động này, tôi nghĩ ra được vài điểm:
1. Lính bộ đội có tŕnh độ học vấn thấp. Nói ra điều này tôi hoàn toàn không có
ngụ ư chê bai mà chỉ nêu lên một sự thật. Những thanh niên thiếu nữ này nếu điều
kiện cho phép chắc chắn tên tuổi của họ cũng được ghi danh trên bảng vàng như
ai. Đúng ra, đảng không muốn thanh niên thiếu nữ miền Bắc học nhiều. Họ cố ư rút
ngắn chương tŕnh trung học trong những năm chiến tranh chỉ c̣n 10 năm (để mau
ra chiến trường), trong khi học sinh miền Nam phải học đủ 12 năm và phải qua
biết bao kỳ thi sát hạch để sàng lọc những người có khả năng học lên cao. Chỉ v́
tŕnh độ nhận thức thấp kém theo chính sách ngu dân của đảng nên tầng lớp thanh
niên không cảm thấy uất hận khi bị lừa dối.

2. Tầng lớp cán bộ và bộ đội lóa mắt trước của cải miền Nam. Họ là những nông
dân chân chất, nghe lời đảng đi “giải phóng” miền Nam khỏi ách đế quốc. Tài sản
của họ ngoài căn nhà tranh vách đất, may ra được con trâu, dăm con gà. Hiếm khi
họ ăn được bữa cơm không độn. Bước vào miền Nam thấy toàn cao ốc, nhà cửa khang
trang, hàng tiêu dùng thừa mứa, họ bỗng đâm thèm khát hết mọi thứ; từ cây kim
may cho đến chiếc b́nh tích giữ nước sôi. Phàm con người có ai không muốn hưởng
thụ, sung sướng. Họ mong đem về Bắc một chiếc xe đạp, trên cổ tay đeo chiếc đồng
hồ (made in Cholon cũng được), và trên vai lủng lẳng chiếc máy thu thanh. Ước mơ
của những anh bộ đội ôi thật tầm thường nghĩ đến tội nghiệp. Đảng biết như thế
nên cố tạo điều kiện cho những kẻ một thời nghe lời dụ dỗ của đảng bằng cách đổi
tiền, đánh tư sản mại bản, và nhiều tṛ cướp giật công khai khác, với mục đích
gián tiếp buộc đồng bào miền Nam phải đem hết đồ dùng trong nhà ra bán dần ở chợ
trời, cân bằng phần nào cán cân kinh tế giữa hai miền Nam Bắc trong thời hậu
chiến. Trong khi đồng bào miền Nam tiêu tán dần sản nghiệp th́ nhân dân miền Bắc
bỗng được sở hữu chủ một vài thứ tiêu dùng mà cả đời họ chưa bao giờ (dám) nghĩ
đến. Trong thời chiến, nhân dân miền Bắc tối đi ngủ gắng mơ được thấy bác Hồ và
măi đến năm 75, cả nước âm thầm gạt bác qua một bên để phấn khởi thay vào đó là
giấc mơ đạp, đổng, và đài. Với giấc mơ hơn hai mươi năm bỗng trở thành hiện thực
chỉ trong vài tháng, nhân dân miền Bắc bỗng đâm ra dễ dăi và chợt quên đi họ đă
bị lừa.

3. Thành phần kẻ sĩ đă bị thuần hóa từ lâu, nhất là sau vụ Giai phẩm Nhân văn
năm 1956, vụ bắt “những kẻ chống đảng” năm 1967. C̣n biết bao vụ thanh trừng
khác xảy ra nhan nhản trong suốt thời chiến tranh. Những chuyện mưu sát công
khai, những chuyện đầu độc nghe được qua rỉ tai, từng ấy chuyện đủ khủng bố tinh
thần của tầng lớp kẻ sĩ đến sợ hăi ngậm miệng. Với phương pháp trấn áp cực kỳ
tàn độc, đảng thành công trong việc bào ṃn ḷng bất khuất của tầng lớp trí
thức, nhận ch́m khí phách truyền thống của cha ông. Thật tội cho họ, biết bị lừa
mà đành phải cắn răng chịu đựng.

Chính v́ những lư do đó mà trong muôn vàn kẻ chứng kiến cuộc “giải phóng”, tất
cả đều nhận ra một chiến dịch bịp vĩ đại ngay sau khi vào thăm và tiếp xúc với
đồng bào miền Nam, nhưng lại không mấy ai thổn thức lương tri, hoặc thắc mắc lấy
một lời về sự dối trá của đảng cộng sản. Trừ hai người (ít ra là họ thú nhận như
thế). Đó là bà Dương Thu Hương và ông Nguyễn khắc Toàn.

Nhà văn Dương Thu Hương kể lại là khi chứng kiến được sự sung túc của miền Nam,
bà ngồi bệt xuống lề đường Nguyễn Huệ và khóc tức tưởi. Trong một bài viết, bà
cho biết: Bà chợt nhận ra chân tướng của đảng cộng sản. Bà biết bà đă bị lừa khi
hiến thân cả cuộc đời để thực hiện cái gọi là “giải phóng miền Nam”. Năm 1968,
lúc bà vừa 21 tuổi, tuổi thiếu nữ tràn trề nhựa sống, bà từ chối ân huệ của đảng
gửi đi du học (giấc mơ của tuổi trẻ miền Bắc) để lên đường vào Nam tham gia
chiến dịch Tổng công kích Tết Mậu Thân. Quyết định dứt khoát vào Nam đi “giải
phóng” cũng v́ hoàn toàn tin tưởng vào sự tuyên truyền (nói dối) của đảng. Bà
quyết dùng tài năng của một văn công để an ủi tinh thần cho những anh bộ đội
trên đường chinh chiến gian khổ. Ôi! Bà khóc là phải lắm. Những giọt nước mắt
uất ức xứng đáng chảy dài trên má v́ sau bao nhiêu năm chiến đấu khổ cực để tàn
phá những ǵ là ước mơ của toàn thể nhân dân miền Bắc. Xét cho cùng, cách mạng
là đổi mới, là t́m một đường hướng tốt hơn hiện tại. Hóa ra không phải thế,
người cộng sản chủ trương lột bỏ hết tất cả những ǵ gọi là tinh túy của cha ông
để áp đặt một chính thể ngoại lại, những “luân lư” cộng sản, trong đó sự lừa dối
được cổ vơ rộng răi trong tầng lớp nhân dân.

Năm 2006, nhà báo Nguyễn khắc Toàn, trong bài viết nhân ngày 30-4, với tựa đề:
“Nh́n Lại Ba Mươi Năm Trước” , ông xác nhận: Cuộc chiến tranh "Huynh đệ tương
tàn - nồi da nấu thịt" ấy đă để lại trong tôi những chấn thương về cả tinh thần
lẫn thể xác. Về phương diện tinh thần, tôi đă có cái nh́n rất khác so với nhiều
đồng đội của ḿnh là những người xuất phát đa phần từ nông dân, sinh trưởng từ
nông thôn miền Bắc Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu. Ông lập lại những ǵ ông được
học tập kỹ lưỡng trong suốt cuộc chiến chống Mỹ: "Rằng đây là cuộc chiến tranh
cách mạng nhằm giải phóng miền Nam khỏi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ ngụy quyền
tay sai!?" "Rằng đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân
Miền Nam khỏi ách ḱm kẹp của Mỹ Ngụy và đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước thiêng liêng...", như bộ máy tuyên truyền vĩ đại ở miền Bắc hô hào ngày
đêm!!!? Và như một số ít oi kẻ sĩ c̣n biết sỉ, ông nhận ra rằng: Tôi đối chiếu,
so sánh với cuộc sống ở Hà nội và cả miền Bắc XHCN th́ những thứ "Tự do dân chủ
" và đời sống khá giả ấy (ở miền Nam; chú thích của người viết) quả là một sự xa
xỉ và hoàn toàn xa lạ đối với người dân miền Bắc. Kết luận của ông nghe thật đau
ḷng: Bi kịch lớn của dân tộc ta, tổ quốc ta là ở chỗ cuộc chiến tranh “huynh đệ
tương tàn” đă tốn biết bao núi xương, sông máu của nhân dân cả nước nhằm hủy
diệt một chế độ đa đảng dân chủ, tự do, và một nền kinh tế thị trường đă từng
tồn tại ở miền Nam VN trước năm 1975, mà giờ đây nhân dân chúng ta đang phải đấu
tranh để được đi lại đúng con đường này. (in đậm theo ư người viết)

Đi lại đúng con đường này có nghĩa là con đường tự do kinh doanh của tư bản, bảo
đảm các quyền căn bản của con người. Trong khi đó, Mác lại khẳng định một chế độ
tư bản sẽ dăy chết và toàn thế giới sẽ được thay thế bằng chủ nghĩa cộng sản.
Lênin thần thánh hóa mớ lư thuyết này, thêm vào “bạo lực cách mạng” để “vô sản
các nước, đoàn kết lại!”, và Nga xuất cảng chủ thuyết của hai ông tây râu xồm ra
các nước nhược tiểu. Bộ môn Triết học Mác-Lê được giảng dạy trong suốt những năm
ở đại học, và những người cộng sản rất tự hào về những lư thuyết “tất thắng”
trong cuốn sách dày cộm này. Bà d́ họ mà tôi nói ở trên biếu tôi cuốn Triết học
Mác-Lê; mở ra, ngay từ trang thứ nhất nổi rơ nét chữ của bà, tinh hoa duy nhất
của nhân loại (sic). Với số tuổi mới trên 20, bà là một tiêu biểu cho thế hệ trẻ
lớn lên ở miền Bắc, thuộc giới trí thức. Bà tin tưởng mănh liệt vào mớ lư thuyết
Mác-Lê, xem đó là tinh túy độc nhất của nền triết học Tây phương, cốt lơi của
một cuộc cách mạng không thể tránh được trong lịch sử nhân loại. Tuổi trẻ Việt
nam lớn lên cũng tin tưởng như thế, nghĩa là bên ngoài thành tŕ xă hội chủ
nghĩa các nước tư bản đang ngắc ngoải, dân chúng ở các nước này đang sống ngất
ngư, chỉ chờ chết. Họ cũng tin tưởng rằng chủ nghĩa tư bản đang tiến đến bờ vực
thẳm và chế độ cộng sản sẽ là chiếc tḥng lọng siết cổ bọn đế quốc tư bản. Sự
thật như thế nào? Mấy tay lănh đạo cộng sản miệng nói xoen xoét như thế nhưng
trong thâm tâm họ vẫn biết họ đang nói dối. Một trong những tay tổ cộng sản là
ông Gorbachev đă thú nhận như thế.

Trong buổi thuyết tŕnh vào ngày 12/3/2002 tại đại học Columbia (Hoa kỳ) với tựa
đề "Russia: Today and the Future" (Nga sô: Hiện tại và Tương Lai), ông Gorbachev
đă nêu rơ vấn đề dối trá của đảng cộng sản nhân dịp kỷ niệm 10 năm sau ngày sụp
đổ của chế độ cộng sản nhờ chính sách đổi mới “perestroika” của ông. Ông nói vào
thời điểm ông lên cầm quyền, khi các vệ tinh của Nga đang bay trên quỹ đạo,
những cán bộ lănh đạo chỉ bàn về vấn đề kem đánh răng, bột giặt..v..v.. nói
chung chỉ là vấn đề hưởng thụ. Ông thêm: "những cán bộ đảng chỉ điều hành quốc
gia với sự gian dối (in đậm theo ư người viết). Chúng tôi, trong số đó có tôi,
từng nói 'Tư bản đang đi đến sự huỷ diệt, trong khi chúng ta đang phát triển tốt
đẹp', lẽ dĩ nhiên, đó chỉ là những lời tuyên truyền (nói dối, chú thích của
người viết). Trên thực tế, quốc gia chúng tôi đang bị bỏ rơi đằng sau."

Sự dối trá đă bám rễ trong tâm trí của những người cộng sản. Họ dùng bất cứ thủ
đoạn nào để che dấu sự thật. Tất cả huyền thoại của một đảng cộng sản được trang
bị bằng vũ khí bách chiến bách thắng (?) là chủ nghĩa Mác-Lê được bắt đầu bằng
cuộc khởi hành xuống tàu đi Pháp của ông Hồ chí Minh. Trong khi ông đi t́m miếng
cơm manh áo cho chính bản thân ông bằng cách gửi thư lên ông Bộ trưởng Thuộc địa
Pháp xin được theo học ở trường thuộc địa để thành tài và có cơ hội phục vụ mẫu
quốc th́ đảng cộng sản lại nói ông xuống tàu để t́m đường cứu nước. Sau này, ông
Hồ thấy nói dối như thế có lợi cho kế hoạch đánh bóng thân thế của ông nên ông
không hề cải chính. Khi nắm trọn miền Bắc, ông Hồ lại dối trá bằng cách lấy bút
hiệu Trần dân Tiên để tự viết tiểu sử mở đầu bằng câu: một người như Hồ Chủ tịch
của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu
công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe b́nh sinh của người được? Ôi! Từ cổ
chí kim, chưa thấy ai có được tính “khiêm tốn” như ông Hồ.

Bắt đầu từ chuyện tự viết tiểu sử bất hủ của ông Hồ để tuyên truyền rầm rộ trong
đám nhân dân miền Bắc đói khổ, đảng cộng sản ngày càng nhận thấy “giá trị” của
sự dối trá. Nó đánh lừa được đám dân chúng ít học, và họ sẵn sàng xả thân để đi
đúng theo con đường mà đảng cộng sản muốn. Câu chuyện ngày xưa, mẹ thầy Tăng Sâm
đang ngồi đan áo chợt có người chạy đến báo tin con bà đă giết người và đang bị
quan huyện lùng bắt. Bà vẫn ngồi b́nh thản đan áo v́ bà tin chắc chắn rằng đứa
con không bao giờ làm những việc tầy trời như thế. Nhưng khi có người đến báo
tin lần thứ ba th́ bà đứng bật dậy và chạy trốn ngay khỏi nhà v́ bà tin rằng
quan quân thế nào cũng đến bắt cả bà. Một việc không có được lập đi lập lại chỉ
mới ba lần mà đă có người tin th́ huống ǵ những lời tuyên truyền của cộng sản
được nhai đi nhai lại hàng trăm ngh́n lần. Những lời tuyên truyền xuyên qua tai
và găm vào óc của đám dân khốn cùng, ngay từ khi lọt ḷng, trong mọi sinh hoạt
từ sáng đến khuya, từ trường học đến công sở, trong nhà đến ngoài ngơ. Nó nói ra
rả, cùng một luận điệu, cùng một ngôn từ, cũng một khuôn mẫu đến nỗi người ta
nghĩ ngay đến cuộn băng từ tính, được phát thanh triệu lần như một. V́ thế, đồng
bào miền Bắc cả tin vào đảng cộng sản cũng là điều dễ hiểu.

Trong một xă hội xảo ngôn, người dân bị bưng bít mọi sự thật th́ những đứa trẻ
lớn lên cũng tin đó là sự thật. Dĩ nhiên nhà trường không bảo thẳng những trẻ
thơ phải nói dối nhưng sớm gieo vào đầu óc chúng những tư tưởng hận thù giai
cấp; trong khi Luân lư Giáo khoa thư dạy phải yêu thương đồng loại. Thêm vào đó,
đảng lại dạy chúng sớm biết nghi ngờ hết mọi người, ngay cả ông bà cha mẹ, để
dám tố cáo những tư tưởng chống đối, phản cách mạng; c̣n Luân lư Giáo khoa thư
lại dạy phải biết tôn kính những người già cả. Đây là một căn bệnh cố hữu của
người cộng sản. Họ nghi ngờ tất cả, lúc nào cũng thấy địch chung quanh, và họ
cho đó là “cảnh giác cách mạng”. Làng xă lại lập ra tổ “tam tam”, nghĩa là cứ ba
nhà làm thành một tổ nhưng thật sự là ḍ xét, canh chừng lẫn nhau. V́ thế, ngay
tại gia đ́nh, mọi người đều kín miệng trong bất cứ chuyện ǵ, không để nhà bên
cạnh biết việc trong nhà ḿnh. Dân chúng sống măi trong một bầu khí nghi kỵ,
không dám tin ai, chẳng dám mở miệng nói với ai một điều ǵ thật trong ḷng.
Đảng cố ư biến cả nước thành nhân vật Tào Tháo thời Chiến quốc. Đă một thời, ở
các làng Công giáo các cụ gặp nhau thường hỏi thăm, dạo này có khỏe không? Câu
trả lời thường là, nhờ ơn Chúa, gia đ́nh tôi vẫn b́nh thường. Sau năm 1954, câu
trả lời chung nhất là, nhờ ơn bác và đảng, gia đ́nh tôi vẫn b́nh thường. Biết
ḿnh đang nói dối nhưng vẫn phải nói, để sống c̣n. Ngay ở trong một xóm đạo, nơi
mà đời sống tinh thần tương đối khá hơn ngoài xă hội, thế mà người dân c̣n phải
nói dối th́ huống ǵ bên ngoài lũy tre xanh, người ta c̣n dối trá đến đâu mà kể.
 


Giời mưa, mấy đấng lái

 "XôxítLe" cứ thế mà sướng.
 

 

 

 

 


Những đứa trẻ miền Bắc lớn lên trong một khung cảnh dối trá đầy dẫy nghi ngờ như
thế và dần dần chúng thấy dối trá là chuyện b́nh thường. Lớn lên, ra ngoài xă
hội, chúng cũng nhận ra những điều thầy cô đứng trên bục giảng gân cổ tự hào về
một xă hội cộng sản cũng chẳng đúng sự thật. Tôi c̣n nhớ năm 1975, lũ sinh viên
gần ra trường chúng tôi được dồn vào giảng đường ở đại học Luật để học chính
trị. Một giáo sư dạy Triết Mác-Lê từ Hà nội vào huênh hoang đứng trên bục giảng
quả quyết rằng Nga đặt chân lên mặt trăng đầu tiên. Ngày lịch sử đó của cả nhân
loại kể ra vẫn c̣n mới, v́ chỉ cách đó mới 6 năm. Ban đầu chỉ nghe tiếng xầm x́
nổi lên đâu đó; chỉ mấy phút sau cả giảng đường nhao nhao phản đối. Ông giáo sư
đứng ngẩn người không hiểu (hoặc giả vờ không hiểu?) chuyện ǵ. Các tổ trưởng
(cứ mười người có một tổ trưởng) yêu cầu chúng tôi yên lặng và hứa sẽ tŕnh lên
trên. Sau 15’ nghỉ giải lao, chính ông ta lên tiếng đính chính sự việc và nh́n
nhận rằng Mỹ đă đưa người lên mặt trăng đầu tiên. Từ chuyện này, tôi nghiệm ra
một điều, đảng cộng sản của ông nói dối hoặc chính ông nói dối. Nếu đó là sự
thật, hoặc ít nhất đó là điều ông được biết và tin qua sách vở của đảng từ năm
1969 th́ bằng mọi cách ông phải bảo vệ sự thật đó. Ông tin đó là sự thật v́ lẽ
đơn giản là ông đặt hết niềm tin vào đảng. Tôi không nghĩ một niềm tin trong 6
năm lại có thể bị sụp đổ chỉ sau 15’ phù du. Khi đính chính câu chuyện lịch sử
đó, vô t́nh ông đă chưởi thẳng vào mặt đảng cộng sản, gián tiếp tố cáo sự dối
trá của đảng, mà chính ông (tôi nghĩ) phải là một đảng viên. C̣n nếu đảng không
dạy nói như thế, th́ chính ông trong một phút say sưa với chủ thuyết Mác-Lê, mê
mẩn thành tŕ Xô-viết. đă bốc đồng cho mấy ông tổ cộng sản đặt chân lên mặt
trăng. Như thế, chính ông là người nói dối. Một người được xem là đại diện cho
giới trí thức miền Bắc, có học vị, giảng dạy ở bậc đại học mà nói dối dễ dàng
đến vậy th́ quả thật con người cộng sản không c̣n liêm sỉ. Chưa kể đến chuyện
ông ta dám khinh thường tŕnh độ nhận thức của đám sinh viên miền Nam. Điều này
tổn thương tự ái bọn sinh viên chúng tôi nhiều nhất. Từ khinh bỉ đám trí thức
cộng sản miền Bắc đến tức giận v́ tự ái, chúng tôi chỉ biết lặng lẽ nh́n nhau
thở dài.

Ở một tiệm thanh nữ hớt tóc.

Trừ những đứa trẻ lớn lên ở làng xóm giữ ǵn một nếp sống tôn giáo nghiêm nhặt,
hoặc sinh trưởng trong một gia đ́nh nho học, và cha mẹ c̣n biết giữ lấy nho
phong, tay quyết không nhúng chàm, c̣n lại phần lớn những đứa trẻ này bước vào
đời đều què quặt về mặt luân lư. Chúng không được trang bị những giá trị luân lư
căn bản của ḷng Nhân, của tâm hồn Lễ Nghĩa, và của cách hành xử Trí Tín. Hành
trang của chúng là trái tim chất chứa hận thù giai cấp, tâm hồn đầy dẫy nghi ngờ
và trí óc với mớ kiến thức khá chừng mực. Ủy viên Trung ương đảng Trần bạch
Đằng, năm 1977, phải nh́n nhận con nít miền Nam lễ phép hơn con nít ở miền Bắc.
Nhưng đức Lễ này thảm thương thay đă chấm dứt ngay sau năm 1975 v́ đảng cộng sản
đă áp dụng chính sách ngu dân (con cái trong chế độ cũ không được học lên cao)
và áp đặt nền giáo dục phi luân lư cho con em miền Nam. Thế là nguyên cả một thế
hệ đầu tiên thời hậu chiến sống mất kỷ cương, lững thững đặt chân xuống cuộc đời
với nhiều gương xấu của cha ông, trong đó sự dối trá nổi bật hơn hết.

May mắn thay cho lớp trẻ thời hậu chiến là tôn giáo vẫn c̣n chiếm giữ một vị trí
quan trọng trong xă hội từ Nam chí Bắc. Nhà thờ, chùa chiền, thánh thất vẫn là
nơi dạy dỗ và cổ vơ một nền luân lư truyền thống của cha ông. Vai tṛ của các
linh mục, sơ, thượng tọa và các thầy chưa bao giờ bức thiết bằng lúc này, khi
đất nước ngả nghiêng trong hỗn loạn luân lư, khi tuổi trẻ đang mất dần định
hướng. Tôn giáo có tác dụng như một cái phanh, ḱm giữ một tuổi trẻ bơ vơ đang
lao ḿnh xuống vực thẳm của vật chất, thản nhiên buông thả mọi giá trị tinh
thần. Sự giằng co giữa tôn giáo và xă hội xem ra khá quyết liệt và tôn giáo đôi
lúc phải ngậm ngùi nh́n tuổi trẻ Việt nam đang lún ngày càng sâu vào vũng lầy
của cuộc đời. Tôi có người bạn nhân chuyến về thăm địa phận Nha trang kể lại
rằng, các tu sinh (những người đang tập sự trong đời sống tu tŕ để trở thành
linh mục) vẫn thản nhiên nói dối không ngượng ngùng. Người bạn đơn cử một thí dụ
(theo lời tâm sự của cha Bề trên), khi ngài hỏi một tu sinh đă quét nhà chưa,
anh ta trả lời đă quét rồi, nhưng ngài biết là anh ta chưa làm; khi hỏi gặng th́
anh ta nói là sẽ làm. Thật rơ ràng ngay lúc trả lời anh đă nói dối. Nên biết
thêm, những tu sinh này đă được tuyển chọn trong muôn ngàn kẻ muốn dâng ḿnh cho
Chúa. Họ là những người đă được sàng lọc, thế mà bụi trần vẫn c̣n vướng trên áo,
ngấm trong tim và lộ ra trong câu nói.

Ngày 27/4/2006, nhân chuyến đi Rôma về, Đức Hồng Y Phạm minh Mẫn đă chuyện văn
với giới Liên Tu sĩ của Tổng Giáo phận Sàig̣n. Trong buổi chia sẻ với khoảng 60
đại diện của các Ḍng Tu và Tu hội nam nữ, ngài kể lại chuyến đi Rôma, đồng thời
đưa ra một vài đề nghị về tu sinh. ĐHY Mẫn nói, “Liên quan đến Chủng viện, bây
giờ có đề nghị năm thứ nhất của chủng viện làm năm tu đức để rửa sạch bụi đời và
trau dồi những khả năng cần thiết khác. V́ nhiều chủng sinh đă học đại học mà
viết một câu tiếng Việt cũng không rồi. Bên cạnh thiện chí, c̣n có nhiều chuyện
khác không lành mạnh đi vào tâm thức của những người trẻ nhập tu. Do đó, phải
đào tạo cho các chủng sinh có ư hướng ngay lành, có kỹ năng đáp trả Ơn Gọi, có
khả năng bỏ ḿnh vác thập giá. Tôi cảm nghiệm điều này hết sức sâu xa: phải bỏ
thói đời, phải bỏ thói ăn gian nói dối. V́ cả xă hội đă như vậy rồi.” (in đậm
theo ư người viết), (LM. Nguyễn văn Khải, D.C.C.T., lược ghi)

Nhận xét của ĐHY Mẫn phản ảnh một sự thật phũ phàng ở xă hội Việt nam ngày nay.
Sự dối trá đă bao trùm trong mọi sinh hoạt của người dân. Tuổi trẻ từ nhỏ đă
không được thấm nhuần tinh thần Luân lư Giáo khoa thư, khi lớn lên bước vào công
sở cũng gặp những cảnh dối trá lươn lẹo của lớp cha ông, th́ dĩ nhiên chúng cũng
phải sống dối trá lươn lẹo cho phù hợp. Ở ống th́ dài, ở bầu th́ tṛn. Nói dối
và ăn cắp là hai thói xấu phổ biến ở những công ty quốc doanh. Trong thời bao
cấp, công nhân ra sức ḅn mót của công. Trước hết v́ công nhân quá nghèo, hai
nữa là v́ mồ cha chung không ai khóc. Lấy được cứ lấy, lỗ lă đă có nhà nước lo.
Cấp dưới làm láo báo cáo hay v́ để làm vừa ḷng cấp trên. C̣n cấp trên chỉ là
những người trưởng thành trong khói lửa, không có lấy một chút kiến thức nào về
điều hành, về quản lư nhưng lại muốn giữ bổng lộc của nhà nước. Ôi! Chưa bao giờ
câu nói của Hoài Nam Tử từ mấy ngh́n năm trước lại có ư nghĩa đến thế: “Trên đời
có ba đại họa, đức ít mà ân sủng nhiều, tài ít mà địa vị cao, công nhỏ mà bổng
lộc lớn.” Những người cộng sản mang danh là lănh đạo ở nước Việt nam hiện nay,
từ các cơ quan hành chánh đến những bộ phận của đảng, đều mắc phải những đại họa
này.

Người cộng sản nào ở bất cứ nơi nào trên trái đất này đều xem sự gian dối là
phương tiện để sống c̣n. Từ mọi lănh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,
luôn luôn thấy sự dối trá. Họ nói dối dễ dàng, như người ta ăn một bát cơm ngon.
Măi rồi sự dối trá thấm nhuần vào máu, hễ ngồi xuống để bàn chuyện, lập tức
trong tâm tư của họ phải nghĩ ngay đến việc phải che dấu sự thật, làm thế nào để
nói dối thật hay, hầu qua mặt được người dân, hoặc con mắt quan sát quốc tế. Tôi
có người bạn nói đùa rằng Thế Vận Hội không có môn thi nói dối, và nếu có chắc
chắn những người cộng sản sẽ chiếm hết cả ba huy chương, vàng, bạc, và đồng. Tôi
bật cười nhưng nghĩ quả không ngoa.



Con trâu vừa kéo vừa lầm bầm:" Thiệt đúng là ...năm tuổi, xui tận mạng!"

Mới đây, báo Tuổi trẻ trong nước đưa tin về chuyện các quan cộng sản nói dối bên
Tàu. Sự thật giới quan trường một số địa phương ở Trung Quốc đă tồn tại một “dây
chuyền nói dối”: quan làng nói dối quan xă, quan xă nói dối quan huyện, cứ thế
nói dối lên trên. Ư kiến cư dân mạng tham gia “Diễn đàn nhân dân Trung Quốc”
trên hệ thống Nhân Dân Nhật Báo tập trung tóm tắt mấy điểm sau:

Thứ nhất, các quan chức có tội, có sai lầm nhưng vẫn muốn giữ ghế.

Thứ hai, một số quan chức cho rằng muốn thăng quan tiến chức nhanh để mưu lợi
nhiều hơn th́ dùng các “kế hoạch nói dối”.

Thứ ba, một số quan chức bản thân sa đọa hưởng lạc nhưng cố tạo ra h́nh tượng
“trong sạch”.

Thứ tư, có những lănh đạo cấp trên thích nghe cấp dưới nói dối, bởi những thành
tích của cấp dưới làm tăng thành tích của cấp trên. Cấp trên thích, cấp dưới ăn
theo. Ở một số nơi, phong khí quan trường bất chính, lănh đạo thích nhiều công
nên chỉ thích nghe thành tích, không thích nghe khuyết điểm, do đó cấp dưới tha
hồ nói dối. Ở một địa phương mà tṛ nói dối “thịnh hành” th́ người nói thật sẽ
gặp rủi ro lớn.

Bây giờ đổi tên Tàu thành Việt nam th́ câu chuyện trên của các quan cộng sản ở
trong nước cũng y chang. Cũng từng ấy lư do mà nói dối. Ôi! C̣n ǵ đau đớn hơn
khi tuổi trẻ Việt nam lớn lên trong một xă hội đầy dẫy những dối trá và họ phải
uốn ḿnh theo ḍng đời để mưu sinh, kiếm sống. Một đất nước Việt nam như thế th́
làm sao xây dựng cho thật sự phú cường, hạnh phúc.

Chiến dịch trăm năm trồng người của Quản Trọng (không phải ư ông Hồ đâu nhé!)
bức thiết hơn bao giờ. Cần phải tôn trọng những luân lư trong cuốn Giáo khoa
thư. Cần phải cổ vơ một nền luân lư căn bản cho con em ngay từ thuở cắp sách đến
trường. Phải làm ngay từ bây giờ và cũng phải mất nhiều thế hệ mới lấy lại được
thăng bằng luân lư cho xă hội Việt nam.

Trễ nhưng vẫn c̣n hơn không.

Sơn Nghị

 

 
 

 

Nguồn take2tango.com