Gandhi va TGM Ngo Quang Kiet (Vo Long Trieu)-Con đưong quang phuc que huong(Ng hưu Thong)

24/1/2009

 

MAHATMA GANDHI
VÀ TỔNG GIÁM MỤC NGÔ QUANG KIỆT

Vơ Long Triều

Một đất nước bị đô hộ hay bị cai trị bằng độc tài quân phiệt, người dân muốn có tự do dân chủ phải trả giá bằng máu hay nước mắt. Những cuộc cách mạng dân tộc thường xẩy ra trong bạo động và phải tốn hao xương máu. Nhưng lịch sử cũng cho thấy người dân Ấn Độ phản kháng cường quyền Anh Quốc, giành độc lập tự do trong sự
ôn ḥa không bạo động.

Hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn dân Ấn Độ xuống đường khắp nơi làm tắc nghẽn mọi sinh hoạt b́nh thường. Với chủ trương bất tuân
luật pháp và phản kháng không bạo động (désobéissance civile et résistance non violente) ông Mahatma Gandhi đă lănh đạo dân
Ấn Độ giành lại độc lập tự do cho đất nước của họ.

Ấn Độ là thuộc địa của Anh Quốc từ năm 1858, do một Phó Vương người Anh cai trị. Chế độ thực dân Anh hà khắc, thuế nặng dân nghèo, sản xuất vật chất bị phân tải về mẩu quốc. Tự do ngôn luận không có, nhưng tự do tín ngưỡng hảy c̣n được tôn trọng.

T́nh trạng Việt Nam có khác, ác độc hơn nhiều, đất đai thuộc quyền quản lư của nhà nước, ruộng đất của nông dân chính quyền muốn cướp th́ cứ tịch thu. Khi cần bán giá cao cho người nước ngoài hay cho bất cứ ai th́ cứ bán. Dân phản kháng th́ chính quyền đàn áp.

Cộng an lộng quyền đánh đập thường dân không sợ bị truy tố v́ hệ thống bao che từ trên xuống dưới đă trở thành qui luật. Quan chức hối lộ công khai, tiền viện trợ hay công quỹ đảng viên chia nhau ḅn rút, miễn sao túi ông đầy, kỳ dư chết sống mặc bây. Xây cầu sập, xây nhà đổ, thành phố và thủ đô ngập lụt v́ cống rănh nghẹt hư trong khi ngân khoản sửa chữa tốn mất nửa triệu đô la.

Luật pháp là để xử những người dân được gán tội là phản động, gây rối trị an chớ không phải để xử đảng viên cách mạng. Báo chí thuộc độc quyền của đảng kể cả mạng lưới liên lạc cá nhân trên trời cũng bị kiểm soát. Tôn giáo tự do hành đạo theo hệ thống quốc doanh trực thuộc chính quyền. C̣n tôn giáo chính thống th́ bị làm khó dễ, hoặc cấm đoán hoặc đàn áp bắt bớ.

Nh́n lại tất cả sự bất công lộng quyền thật là ghê rợn. Chế độ cộng sản lúc ban đầu làm dân sợ hăi nhưng sự gian ác tràn đầy gây bất măn đến độ tức nước vỡ bờ, dân chúng không c̣n sợ công an chính quyền nữa.

Trở lại chuyện Ấn Độ, ông Mahatma Gandhi, được người Ấn tôn Thánh, đă lănh đạo phong trào giành độc lập khởi sự từ năm 1920 bằng cách trường kỳ phản kháng, bất hợp tác, bất tuân luật pháp,
bất bạo động. Hai mươi bảy năm sau ngày 15 tháng 8 năm 1947
Cộng Ḥa Ấn Độ tuyên bố độc lập tự do.

Đọc qua cuộc sống và hành động của Gandhi tôi nhớ một vài sự kiện ly kỳ trong biết bao nhiêu việc ông đă làm cho chính quyền Anh Quốc phải lúng túng đến cuối cùng phải chịu thua.

Có một ngày ông cho thông báo và yêu cầu toàn dân theo ông ra biển, mỗi người phải đem theo một cái chén, hay một gáo dừa hoặc bất cứ thứ ǵ có thể đựng nước. Theo lời yêu cầu của ông, hàng trăm ngàn người Ấn Độ theo ông ra biển. Tới nơi ông bảo mỗi người múc nước biển phơi khô thành muối và từ nay tự sản xuất lấy mà dùng, không mua muối của chính quyền Anh Quốc bán nữa.

Một lần khác ông làm một tay quay kéo chỉ và đề nghị
toàn dân dệt vải may mặc không mua vải của Anh Quốc.

Chính quyền thực dân Anh Quốc bắt giam những người biểu t́nh phản kháng, ông Gandhi ra lệnh tất cả dân Ấn tự nguyện xin vào tù. Trước cửa cac nhà tù dân chen nhau đen nghẹt xin cho được vào nhà giam.

Ngoài ra ông Mahatma Gandhi đă tuyệt thực nhiều lần để phản đối và đ̣i hỏi chính quyền thực dân phải nhượng bộ hết việc nầy đến việc khác, kết quả ông đă đưa dân tộc ông đến bờ tự do.

Tại Việt Nam Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt đă viết thơ thỉnh cầu ṭa thánh Vatican mở năm thánh tại Thái Hà, nhân dịp kỷ niệm tám mươi năm thành lập nhà ḍng chúa cứu thế và đền thờ Đức Mẹ Hăng Cứu Giúp. Ṭa Thánh đă chấp thuận do thơ trả lời đề ngày 19 tháng 12 năm 2008 của Đức Hồng Y Francis James Stafford, Chưởng Quản Tổng Ṭa Xá Giải, được sự ủy nhiệm của Đức Giáo Hoàng.

Văn thư ấn định những ai dự lễ tại đền thánh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, giáo xứ Thái Hà và cầu nguyện theo ư Đức Thánh Cha th́ sẽ được hưởng ơn Toàn Xá. Văn thư c̣n nêu rơ hai điều quan trọng là:
- "Mọi dịp mừng trọng thể và các ngày lễ do
Đức Tổng Giám Mục Hà Nội tùy ư ấn định"

- "Văn thư nầy có giá trị trong năm Đại Thánh,
bất chấp mọi quy định trái ngược".

Hai tháng trước đây tại giáo xứ Thái Hà và khu Toà Khâm Sứ, giáo dân cầu nguyện bị gây rối, đàn áp, khủng bố, đánh đập, bắt bớ, truy tố ra ṭa. Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đă từng tuyên bố ai bị cầm tù th́ ngài sẽ thay thế.

Ngày nay sự thỉnh cầu của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt được ṭa thánh Vatican công khai chấp nhận. Lập năm thánh tại đền thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, giáo xứ Thái Hà và cho mọi giáo dân đến đó dự lể cầu nguyện được hưởng ơn Toàn Xá. Thật là một ơn phước cho toàn thề người công giáo Việt Nam và cũng là một tin mừng cho tất cả đồng đạo người Việt trên khắp thế giới.

Trong niềm hân hoan đó tôi vững tin Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt biết rơ ngài phải xử lư như thế nào và hành động làm sao để cho giáo dân Công Giáo Việt Nam có được sự tự do thờ phượng Thiên chúa theo sự tin tưởng của ḿnh và theo đúng qui luật của giáo hội.

Tôi mong rằng có một ngày nào đó Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt sẽ có lời kêu gọi toàn thể giáo dân khắp xứ qui tụ về tại Hà Nội, Giáo xứ Thái Hà để dự lễ cầu nguyện theo ư Đức Thánh Cha.

Tôi hy vọng cộng sản Hà Nội sẽ không đàn áp và nếu có đàn áp cũng không giải quyết được vấn đề v́ lúc đó Hà Nội sẽ bị hàng trăm ngàn người tràn ngập, giao thông tắc nghẽn, dân chúng đứng chật đường, đông hơn công an cảnh sát.

Tôi cũng hy vọng rằng nếu chính quyền bắt giam giáo dân về thủ đô cầu nguyện th́ Đức Tổng Giám Mục Ngô Quan Kiệt sẽ là người đầu tiên vào tù và hàng ngàn, hàng triệu giáo dân khác sẽ xin theo, bởi v́ bị giam trong nhà tù nhỏ th́ cũng giống y như nhà tù lớn ở khắp xứ, cũng mất tự do, cũng không có công lư, cũng bị hiếp đáp, đàn áp, bóc lột do tham nhũng và công an lạm quyền. Vậy th́ tù trong hay tù ngoài có khác ǵ nhau đâu!

Tôi ước mong năm thánh từ ngày 31 tháng 01 năm 2009 đến ngày 7 tháng 5 năm 210 sẽ là năm chúa ban cho dân Việt Nam có được sự tự do thờ phượng thiên chúa theo đúng nghi lễ, điều kiện và qui luật của hội thánh. Tôi tin người công giáo Việt Nam sẽ hy sinh tất cả để tạo cho bằng được quyền tự do tín ngưỡng của ḿnh. Tôi tin trong số giáo dân công giáo sẽ có một người nổi bật như ông Môi-Sen đứng ra lănh đạo dẫn dắt dân chúa hưởng được quyền tự do thờ phượng ngài.

Tôi cũng ước mong sự tự do hành đạo dẫn đến mọi sự tự do khác mà dân tộc Việt Nam đang mưu t́m bằng mọi cách.

Vơ Long Triều
10-1-09

-----




(repost)
CON ĐƯỜNG QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống


Ngày nay vấn đề sinh tử của đồng bào trong nước là làm sao quang phục quê hương, giải thể chế độ Cộng Sản và xây dựng chế độ Dân Chủ.



Mọi người đồng ư rằng muốn đưa Cách Mạng Dân Chủ đến thành công phải có sự đấu tranh kiên cường của đồng bào trong nước và sự yểm trợ tích cực của đồng bào hải ngoại.

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc chống đế quốc và chuyên chế, chưa thấy một quốc gia nào lại có cơ may như Việt Nam ngày nay. Đó là sự hậu thuẫn của khối đông đảo người Việt hải ngoại, ba triệu người như một, đồng ḷng hướng về quê hương, mong cho dân tộc và đất nước tiến lên.

Chưa nói về sức mạnh tài chánh, đủ khả năng tiếp viện mỗi năm dăm bẩy tỷ mỹ kim cho quốc nội khi đất nước có tự do. hưa nói về sức mạnh phát triển, với hàng trăm ngàn chuyên viên kỹ thuật gia thượng thặng, đủ mọi ngành, mọi nghề, sẵn sàng trở về kiến thiết quốc gia khi đất nước có dân chủ.


Chỉ nói về mặt nhân tâm, với hàng triệu tấm ḷng, ngày đêm hướng về quê hương yêu dấu, mong cho đồng bào được hạnh phúc, cho dân tộc được tự do th́ đó cũng là một sức mạnh tinh thần vô giá.

Môt khi được vận dụng, sức mạnh này sẽ tạo thành động lực để thúc đẩy cuộc vận động lịch sử của người Việt trong nước đứng lên đ̣i quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Đầu năm 2002, thay mặt đồng bào trong nước không c̣n quyền được nói, chúng ta phát động phong trào tố cáo phe lănh đạo Cộng Sản đă phản bội Tổ Quốc bằng cách nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung Quốc.

Sau đó chúng ta lại phát động phong trào tố cáo Đảng Cộng Sản đă phản bội đồng bào trong các mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc và công bằng xă hội; đồng thời kêu gọi đồng bào đứng lên đấu tranh quang phục quê hương, đ̣i dân tộc tự quyết, giải thể chế độ CS để giành lại quyền làm chủ quốc gia, làm chủ đất nước.

Hai phong trào này đă được sự hưởng ứng của đồng bào các giới. Từ trong nước các anh em dân chủ nhắn ra rằng: "Chúng tôi rất cảm kích khi thấy các anh c̣n nhớ quê hương sau 27 năm bỏ nước ra đi."
Một số anh chị em ở hải ngoại cũng nói:
"Các anh đă cho chúng tôi một hy vọng."


Ngày nay, bằng sự vận động và tổ chức quần chúng, bằng sức mạnh của ng̣i bút, sức mạnh của lời nói, sức mạnh của tư tưởng, chúng ta sẽ biến hy vọng thành Niềm Tin. V́ có Niềm Tin mới có quyết tâm dấn thân hành động. Trên b́nh diện dân tộc Niềm Tin là vơ khí lớn nhất. Nó đem lại những hy vọng mới, những chân trời mới, hướng dẫn con người đi tới tự do.

Dầu sao chúng ta ư thức rằng giải thể CS là một cuộc đấu tranh trường kỳ và cam go. Đây là một việc thiên nan vạn nan, một cuộc lấp biển vá trời. Kinh nghiệm cho biết CS không bị giải thể v́ những tấn công từ bên ngoài. Nó chỉ giải thể khi người dân trong nước không ai tha thiết bảo vệ chế độ nữa. Do đó, muốn đưa Cách Mạng Dân Chủ đến thành công, chúng ta phải trông vào nội lực của chính ḿnh.


Mà ngày nay ở trong nước, dân trí bị bưng bít bởi bộ máy tuyên truyền vĩ đại của Đảng CS. Theo Hà Sĩ Phu, "từ 50 năm nay, người dân nông thôn không biết có ǵ tồn tại ngoài đảng CS."

Dân khí suy vi, v́ người dân thấy ḿnh bị lường gạt và phản bội trong 3 cuộc chiến tranh kéo dài hơn 40 năm.
Dân quyền bị chà đạp trong một chế độ công an trị hà khắc. 26 nhân quyền căn bản bị vi phạm thường xuyên và thô bạo. Nhân phẩm bị hạ thấp: người dân chỉ được coi là "con", mà không được đối xử như "người."

Hơn nữa, dân t́nh đói khổ với những bất công và bất b́nh đẳng trầm trọng. Bằng tham nhũng và lạm quyền với một chính sách kinh tế lạc hậu, phe lănh đạo CS đă đưa đất nước và dân tộc đến lầm than đói khổ. Lợi tức b́nh quân mỗi đầu người tại Việt Nam ngày nay chỉ được 1 mỹ kim một ngày.

Trong khi đó, v́ không có sự kiểm soát và chế tài, phe lănh đạo CS đă sang đoạt tất cả tài sản quốc gia, kể cả các ngân khoản viện trợ tái thiết và viện trợ nhân đạo. Bằng dĩ công vi tư, biển thủ công quỹ, hối mại quyền thế, sưu cao thuế nặng, họ đă làm giàu bất chính để trở thành những triệu phú và tỉ phú trong khi người vô sản vẫn hoàn là vô sản và không có một đồng xu dính túi. Do sự chênh lệch giàu nghèo quá đáng, lợi tức thực sự của người dân trung b́nh tại nông thôn chỉ được 1/2 mỹ kim một ngày.


Chính quyền này coi dân như cỏ rác. Họ đánh giá quá thấp mạng sống con người. Trong vụ lính tuần dương Trung Quốc hạ sát 9 ngư dân Thanh Hóa, nhà nước chỉ bồi thường thiệt hại cho mỗi gia đ́nh nạn nhân từ 30 đến 60 mỹ kim. Nếu ai đứng ra phản đối Trung Quốc sẽ lập tức bị bắt giữ và có thể bị truy tố về tội "phá hoại chính sách đoàn kết quốc tế." Trước t́nh trạng oan khiên tủi nhục này chúng ta phải tự nhủ rằng, chúng ta sẽ góp phần vào việc giải phóng đồng bào khỏi sự bất công, khỏi sự nghèo đói, khỏi sự sợ hăi, khỏi nạn chuyên chế, khỏi nạn CS.

Cách đây hơn 70 năm, sau vụ Sô Viết Nghệ Tĩnh, Phạm Quỳnh đă cảnh giác chúng ta về nạn "dịch hạch CS". Ngày nay, với kinh nghiệm bản thân, chúng ta ư thức rằng CS c̣n nguy hại hơn dịch hạch. Nó là bệnh ung thư. Mà ung thư th́ không thể trị liệu được. Ung thư chỉ có thể cắt bỏ đi. CS cũng vậy. Chế độ CS không thể sửa chữa được. Nó phải bị giải thể!


PHẦN THỨ NHẤT:
ĐƯỜNG HƯỚNG ĐẤU TRANH

V́ thiếu ư thức và kinh nghiệm Cộng Sản, một số người khẳng định rằng, tại Việt Nam ngày nay, chế độ CS đă giải thể rồi. Trong khi đó một số người khác lại quả quyết rằng CS không thể nào giải thể được!
Đó là hai quan niệm cực đoan và sai lầm.

I. KHÔNG CẦN GIẢI THỂ CỘNG SẢN NỮA ??

Ngày nay một số người nhận định rằng trên thực tế chế độ CS đă giải thể rồi, và đảng CS đă biến thành một đảng Mafia, hay băng đảng. Do đó chúng ta chỉ cần chống tham nhũng chứ không cần đấu tranh giải thể CS nữa.

Nhận định như vậy là chủ quan
và không hiểu rơ bản chất CS.

Trên thực tế, bằng tham nhũng và lạm quyền, phe lănh đạo CS đă tập trung và sang đoạt tất cả các tài sản quốc gia, để thủ lợi riêng và làm giàu bất chánh. Theo các tài liệu đáng tin cậy, th́ hiện nay có trên 30 cán bộ CS cao cấp đă tích lũy những tài sản khổng lồ hàng chục triệu và hàng trăm triệu mỹ kim. Những tài sản này bao gồm những trương mục ngân hàng tại ngoại quốc, những bất động sản và những cơ sở kinh doanh thương mại ở trong nước.

V́ không có sự kiểm soát và chế tài của quốc dân, của đối lập, của báo chí, của ṭa án, của quốc hội, những kẻ tham nhũng bất lương này đă không bị truy tố, không bị kết án và không bị tịch thu tài sản. Đồng bào vô cùng phẫn uất về sự bao che này.

Họ công khai miệt thị phe lănh đạo CS, và đă tố cáo đích danh "con thằng Kiệt, con thằng Khải, cháu thằng Đỗ Mười" v....v... Mới đây cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, với đồng lương chết đói, đă dám tặng dữ một lần một triệu mỹ kim. Hành vi này cho biết rất có thể ông ta đă tích lũy được hàng chục triệu mỹ kim.

Điều đáng lưu ư là trong khi Mafia chỉ là một đảng cướp thường th́ Đảng CS ngày này là một đảng cướp đă cướp được chính quyền. Cũng v́ vậy, họ có chính phủ tay sai để thi hành đường lối chính sách của Đảng và đă dĩ công vi tư sử dụng ngân sách quốc gia vào việc nuôi dưỡng các cán bộ đảng viên.

Họ c̣n có quốc hội bù nh́n để hợp thức hóa những nghị quyết của Đảng, và đă ghi Điều 4 Hiến Pháp giành độc quyền lănh đạo cho Đảng CS. Họ c̣n có ṭa án công cụ để một mặt bao che những hành vi tham nhũng của những kẻ bất lương, mặt khác lại bắt giam độc đoán những công dân lương thiện đă dám đứng lên tố cáo bạo quyền, đ̣i tự do, công lư, dân chủ và nhân quyền.

Hơn nữa, sau khi cướp được chính quyền, Đảng CS đă thiết lập một chế độ độc tài toàn trị.

Do đó ngày nào Đảng CS c̣n giữ độc quyền lănh đạo, vi phạm quyền dân tộc tự quyết, quyền tham gia chính quyền và quyền tự do tuyển cử, th́ chúng ta c̣n phải đấu tranh để giải thể CS.

Ngày nào họ c̣n giữ độc quyền tư tưởng để phổ biến tại các trường công lập chủ thuyết Mác-Lê phản dân tộc và phản nhân loại, th́ chúng ta c̣n phải đấu tranh để giải thể CS.

Ngày nào họ c̣n chủ trương tiêu diệt tôn giáo trong chủ thuyết và đàn áp tôn giáo trong chính sách, th́ chúng ta c̣n phải đấu tranh để giải thể CS.

Ngày nào họ c̣n giữ độc quyền thông tin, độc quyền báo chí và không cho tư nhân ra báo, th́ chúng ta c̣n phải đấu tranh để giải thể CS.

Và ngày nào họ c̣n tước đoạt của người dân quyền tựïï do hội họp, tự do lập hội và tự do lập đảng, th́ chúng ta c̣n phải đấu tranh để giải thể CS.


Ngày nay Đảng CS là một con rắn hai đầu, đầu kinh tế Mafia với tham nhũng bóc lột, và đầu chính trị độc tài với đàn áp khủng bố. Nạn nhân trực tiếp của chế độ lại là những người đă tích cực góp phần xây dựng chế độ, như các cựu chiến binh, thương phế binh, gia đ́nh liệt sĩ v...v... Do đó muốn cho đất nước và dân tộc tiến lên, chúng ta phải kết hợp đấu tranh quang phục quê hương, giải thể CS bằng cách chém đứt 2 đầu con rắn.

II. CỘNG SẢN KHÔNG THỂ GIẢI THỂ ĐƯỢC.

Bên cạnh quan niệm cho rằng chế độ CS đă tự giải thể và Đảng CS đă biến thành một đảng Mafia hay băng đảng, một số dư luận lại cho rằng CS không thể nào giải thể được. Đây là một quan niệm bi quan và phản biện chứng.

V́ chỉ trên b́nh diện tôn giáo đạo lư, những nguyên lư chủ thuyết mới có giá trị như những chân lư tuyệt đối, như đức từ bi của Nhà Phật, đức bác ái của Chúa Kitô, hay đức nhân nghĩa của Khổng Phu Tử. Trên b́nh diện dân sinh xă hội, các nguyên lư chủ thuyết chỉ có giá trị tương đối theo thời gian và không gian.

Về mặt chính trị xă hội, các chế độ chỉ quy định những tương quan giữa người dân và quốc gia. Do đó nó phải thay đổi theo tŕnh độ ư thức của người dân, điều kiện kinh tế xă hội của quốc gia và trào lưu tiến hóa của lịch sử.

Trong lịch sử cổ kim, những chế độ tàn bạo nhất như của Kiệt Trụ, Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hăn, Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông v...v... đă lần lượt tiêu vong với thời gian.

A. 1989-1991: ĐẾ QUỐC SÔ VIẾT TAN RĂ VÀ 22 QUỐC GIA ĐĂ LẦN LƯỢT GIẢI THỂ CS.

Cũng v́ vậy tại Âu Châu, chỉ trong ṿng hai năm (từ 1989 đến 1991), 22 quốc gia đă lần lượt giải thể CS: 7 nước thuộc Bức Màn Sắt Đông Âu là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Albanie, Bulgarie, Roumanie, và 15 nước thuộc Liên Bang Sô Viết. Yếu tố giải thể CS thay đổi tùy theo những điều kiện đặc thù của từng quốc gia. Tựu chung có 3 yếu tố giải thể CS là:

1) Sức mạnh của quốc dân biểu dương bằng những cuộc mít tinh,biểu t́nh, tuần hành, đ́nh công v...v...

2) Một tổ chức đối kháng mạnh mẽ
như Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan.

3) Ư thức phản tỉnh và tinh thần thể thao
phục thiện của nhà cầm quyền.
Sau những cuộc tổng tuyển cử tự do,
khi thấy người dân không c̣n ủng hộ chế
độ nữa, phe lănh đạo CS đă lặng lẽ rút lui.

Trên thực tế không phải cuộc giải thể CS nào
cũng hội đủ 3 yếu tố nói trên.


Tại Hung Gia Lợi, chúng ta không thấy có sự nổi dậy của quần chúng. "Diễn Đàn Dân Chủ" chỉ là một câu lạc bộ để thảo luận về những vấn đề dân chủ và nhân quyền. Yếu tố giải thể CS là ư thức phản tỉnh và tinh thần thể thao phục thiện của nhà cầm quyền. Khi thấy người dân không c̣n tha thiết bảo vệ chế độ nữa, phe lănh đạo CS đă lặng lẽ rút lui.

Tại Tiệp Khắc cũng vậy. Tới tháng 10, 1989 không thấy những cuộc biểu dương lực lượng quy mô của quần chúng. "Hiến Chương 77" chỉ là một tổ chức lỏng lẻo, không có nội qui, điều lệ, không có ban chấp hành và không có danh sách hội viên chính thức. Mục tiêu của Hội là đối thoại với nhà cầm quyền về những vấn đề nhân quyền và vi phạm nhân quyền.

Tại Đông Đức, vấn đề chủ yếu là tự do di chuyển và tự do lựa chọn nơi cư trú. Tháng 10, 1989, trong ngày kỷ niệm 40 năm thành lập Đông Đức, Tổng Bí Thư Honecker c̣n mạnh bạo khẳng định rằng chế độ CS sẽ tồn tại 100 năm! Vậy mà chỉ 2 tuần sau, ngày 9-11-1989, bức tường ô nhục Bá Linh đă bị phá vỡ, kéo theo sự sụp đổ của chế độ CS.


Sự giải thể CS tại 7 nước Đông Âu năm 1989 đă đưa đến sự tan ră của Liên Bang Sô Viết năm 1991, và 15 quốc gia trong Liên Bang đă lần lượt giải thể CS.

Như vậy yếu tố giải thể CS thay đổi tùy theo điều kiện đặc thù của từng quốc gia. Dầu sao chúng ta thấy có 2 yếu tố chung: CHÍNH NGHĨA VÀ THỜI CƠ.

Chính Nghĩa ở đây là Chính Nghĩa Tự Do Dân Chủ. Và Thời Cơ là sự kiệt quệ của Liên Xô. Kiệt quệ về Niềm Tin và kiệt quệ về kinh tế.

Từ sau cái chết của Stalin nhân dân Liên Xô đă ư thức sự sai lầm của chủ thuyết cách mạng vô sản, và muốn sống chung ḥa b́nh với các nước tư bản Tây Phương. Hơn nữa từ thập niên 1980, kinh tế Liên Xô lâm vào t́nh trạng suy kiệt sau cuộc thi đua vơ trang với Hoa Kỳ trong Chiến Tranh Tinh Cầu (Star Wars). Ngoài ra Liên Xô c̣n bị sa lầy nặng nề trong Chiến Tranh A Phú Hăn.

Để diễn tả sự kiệt quệ kinh tế tại Liên Xô, người ta thường nói: "nhà nước giả đ̣ trả lương cho công nhân viên, và công nhân viên cũng giả đ̣ làm việc cho nhà nước".

Để cứu nguy đất nước, năm 1985, Gorbachev phải thay đổi chính sách bằng tái cấu trúc về kinh tế và cởi mở về chính trị. Với sự triệt thoái quân đội khỏi A Phú Hăn, từ nay Liên Xô chủ trương không can thiệp vào việc nội bộ của các quốc gia trong Minh Ước Warsaw (nghĩa là Liên Xô sẽ không đem chiến xa để dập tắt những cuộc khởi nghĩa như tại Ba Lan và Hung Gia Lợi năm 1956, hay tại Tiệp Khắc năm 1968).

Vận dụng cơ hội lịch sử này, 7 nước Đông Âu đă đứng lên đấu tranh giải thể CS năm 1989. Và hai năm sau, năm 1991, Liên Bang Sô Viết đă tan ră, và 15 quốc gia trong Liên Bang đă giải thể CS.

Hậu quả dây chuyền của sự giải thể CS Âu Châu là sự tiêu vong của một số chế độ CS Á Phi như tại Angola, Mozambique, Ethiopie, A Phú Hăn, Mông Cổ, Cao Miên v...v...


B. 1946-1949: CÁC ĐẾ QUỐC
TÂY PHƯƠNG TỰ GIẢI THỂ.

Nếu 1989 là năm đánh dấu sự suy tàn của Đế Quốc Sô Viết th́ 40 năm trước, năm 1949, tất cả các Đế Quốc Tây Phương như Mỹ, Anh, Pháp, Ḥa Lan đă lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 thuộc địa Á Châu:
- 5 nước thuộc Anh là Ấn Độ, Đại Hồi, Miến Điện, Tích Lan và Palestine (trong những năm 1947-1948).

- 5 nước thuộc Pháp là Syrie, Liban, Việt Nam, Ai Lao và Cao Miên (trong những năm 1946 và 1949).

- Cùng với Phi Luật Tân thuộc Hoa Kỳ (năm 1946), và Nam Dương thuộc Ḥa Lan (năm 1949).

Đây là kết quả cuộc đấu tranh bất bạo động bằng đường lối chính trị và ngoại giao của các nhà cách mạng quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc, đấu tranh không đổ máu và không liên kết với Quốc Tế Cộng Sản.

Hai yếu tố giải thể thuộc địa vẫn là CHÍNH NGHĨA VÀ THỜI CƠ:

Chính Nghĩa ở đây là Chính Nghĩa Giải Phóng Dân Tộc. Thời Cơ ở đây là trào lưu tiến hóa của lịch sử và sự kiệt quệ kinh tế của các đế quốc Âu Châu.


Sau Thế Chiến I, Tổng Thống Hoa Kỳ Wilson đề xướng quyền dân tộc tự quyết tại Hội Quốc Liên (tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc). Và năm 1919 Anh Quốc đă trả độc lập cho Canada và A Phú Hăn.

Năm 1942 khi chiến tranh c̣n đáng tiếp diễn, theo lời đề nghị của Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt, các quốc gia Đồng Minh Tây Phương đă kư Hiến Chương Đại Tây Dương theo đó khi Chiến Tranh kết thúc, các đế quốc Tây Phương sẽ lần lượt trao trả độc lập cho các thuộc địa Á Phi.

Về mặt kinh tế xă hội, sau Thế Chiến II, hai nước Anh Pháp đă bị tàn phá nặng nề, kinh tế suy kiệt, dân chúng túng thiếu, nạn thất nghiệp trầm trọng, và hàng triệu cựu chiến binh giải ngũ không có công ăn việc làm.

Tháng 5, 1945 Đức đầu hàng Đồng Minh. Hai tháng sau, tháng 7, 1945, chính phủ Anh tổ chức tổng tuyển cử. Người anh hùng dân tộc Winston Churchill, lănh tụ Đảng Bảo Thủ vẫn chủ trương duy tŕ thuộc địa để lấy lại vinh quang cho đất nước.

Trong khi đó Đảng Lao Động của Clement Attlee đưa ra đường lối đối lập, chủ trương tái thiết quốc gia, xây dựng kinh tế, cải tiến dân sinh, giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa. Khai phóng thuộc địa vốn là chính sách cố hữu của Đảng Lao Động Anh và Đảng Xă Hội Pháp từ thập niên 1930.

Tháng 4, 1945, 50 quốc gia Đồng Minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc.

Phỏng theo mô h́nh của Liên Hiệp Quốc, các Đảng Lao Động Anh và Xă Hội Pháp chủ trương thành lập Liên Hiệp Anh và Liên Hiệp Pháp trong tinh thần b́nh đẳng, hợp tác và hữu nghị theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Các cựu thuộc địa sẽ trở thành các quốc gia liên kết, với chính sách ngoại giao chung và pḥng thủ chung. Những tương quan kinh tế và văn hóa sẽ được phát triển. Tuy nhiên về mặt chính trị, các thuộc địa sẽ được giải phóng và hoàn toàn độc lập..

Đường lối này đă được đa số cử tri Anh chấp thuận. Và tháng 7, 1945, Đảng Lao Động của Clement Attlee đă thắng Đảng Bảo Thủ của Winston Churchill. Hai tháng sau khi ḥa b́nh văn hồi, người anh hùng dân tộc Churchill đă ngă ngựa.

Trung thành với ư nguyện của quốc dân, trong hai năm 1947 và 1948, Chính Phủ Lao Động Clement Attlee đă trả độc lập cho 5 thuộc địa và giám hộ Á Châu là Ấn Độ, Đại Hồi, Miến Điện, Tích Lan và Palestine.

Tại Pháp cũng vậy. Tháng 10, 1945 Tướng De Gaulle, người anh hùng giải phóng dân tộc tổ chức trưng cầu dân ư, và đề nghị một chính thể tập trung quyền lực (với ngụ ư duy tŕ thuộc địa). Tuy nhiên, 2/3 cử tri Pháp đă bác bỏ đề nghị này để ủng hộ lập trường của Đảng Xă Hội Pháp tương tự như Đảng Lao Động Anh nghĩa là: tái thiết quốc gia, xây dựng kinh tế, cải tiến dân sinh, giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa.

Như vậy là từ sau Thế Chiến II, tại Á Châu, kỷ nguyên đế quốc đă cáo chung để nhường chỗ cho kỷ nguyên liên hiệp theo tinh thần Hiến Chương Đại Tây Dương và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

Năm 1946, sau khi De Gaulle từ nhiệm, Chính Phủ Xă Hội Léon Blum đă kư hiệp ước với Syrie và Liban để trả độc lập cho 2 quốc gia này. V́ tại Trung Đông không có hiểm họa CS nên quân đội Liên Hiệp Pháp đă triệt thoái.

Cũng trong năm 1946, Pháp thương nghị với Hồ Chí Minh, sau khi ông này tuyên bố giải tán Đảng CS Đông Dương và thành lập chính phủ liên hiệp quốc gia với Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Hai bên đă kư hai hiệp ước: Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny (tháng 3/1946) và Hiệp Ước Tạm Thời Moutet (tháng 9/1946).

Tuy nhiên ba tháng sau, tháng 12/1946, Hồ Chí Minh trở mặt phát động chiến tranh vơ trang, và đă trắng trợn vi phạm các hiệp ước quốc tế.


Lúc này chính phủ liên hiệp quốc gia đă giải tán. Sau khi quân đội Trung Hoa triệt thoái, Cộng Sản thẳng tay tàn sát các cán binh Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Như vậy đoàn kết quốc gia chỉ là một chiêu bài và chính phủ liên hiệp chỉ là bức b́nh phong để thương nghị với Pháp.

Và sự giải tán Đảng CS Đông Dương cũng
chỉ là một chiến thuật ngụy trang và dối trá.

Coi thường danh dự quốc gia, Đảng CS kư hiệp ước quốc tế không phải để thi hành hiệp ước. Họ chỉ coi hiệp ước là một phương tiện đấu tranh chính trị. Do đó theo đề nghị của bộ trưởng Moutet (thuộc Đảng Xă Hội) chính phủ Pháp quyết định sẽ không thương nghị với Hồ Chí Minh nữa.

Và năm 1947, Tổng Thống Xă Hội Vincent Auriol chủ trương thương thuyết với phe Quốc Gia Việt Nam để trả độc lập cho Việt Nam. Hai bên đă kư 3 hiệp ước: Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long (tháng 12/1947), Thông Cáo Chung Vịnh Hạ Long (tháng 6/1948) và Hiệp Ước Élysée kư kết giữa Tổng Thống Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại ngày 8-3-1949.


Qua tháng sau, ngày 23-4-1949, với 45 phiếu thuận (của 40 dân biểu Việt và 5 dân biểu Pháp) và 6 phiếu chống, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị để sáp nhập Nam Phần vào lănh thổ quốc gia Việt Nam, độc lập và thống nhất (xin coi Nguyễn Khắc Ngữ: Bảo Đại và các Đảng Phái Quốc Gia).

Một tháng rưỡi sau, ngày 6-6-1949, theo thủ tục khẩn cấp, Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Élysée về khoản trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam. Và ngày 2-2-1950, Quốc Hội Pháp phê chuẩn ṭan bộ Hiệp Định Elysée với 12 phụ ước và 30 đính ước bổ túc.

Thông thường các hiệp ước quốc tế đều do các ngoại trưởng kư kết. Riêng Hiệp Định Élysée đă được chính Tổng Thống Vincent Auriol kư, với sự chứng kiến của Thủ Tướng Queille, của Ngoại Trưởng Schuman, của Bộ Trưởng Quốc Pḥng Ramadier và của Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Coste-Floret.

Do đó không thể chấp nhận luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của Đảng CS cho rằng Pháp kư Hiệp Định Élysée chỉ là "giả đ̣".


Với Hiệp Định Élysée, chiếu công pháp quốc tế, Việt Nam được hoàn toàn độc lập, các hiệp ước thuộc địa và bảo hộ kư kết với Pháp hồi cuối thế kỷ 19 như Hiệp Ước Bonard (1862), Hiệp Ước Dupre (1874) và Hiệp Ước Patenotre (1884) đều đă bị Hiệp Định Élysée băi bỏ.

Mặc dầu vậy, Đảng CS đă phủ nhận nền độc lập này và đă phá hoại nền thống nhất này. V́ Hiệp Định Elysée không cho họ độc quyền lănh đạo quốc gia. Và họ đă tiếp tục chiến đấu vơ trang, với sự yểm trợ của Quốc Tế CS, để cướp chính quyền tại Miền Bắc năm 1954, và cướp chính quyền tại Miền Nam năm 1975.


Ngày nay lịch sử đă chứng minh rằng Đảng CS không có công giành độc lập, và không có công thống nhất đất nước. Hơn nữa sau 60 năm cướp chính quyền, Đảng CS đă không đem lại tự do dân chủ và ấm no hạnh phúc cho người dân.

Như vậy Đảng CS đă phản bội đồng bào trong các mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc. Mới đây, họ c̣n phản bội Tổ Quốc bằng cách nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung Quốc.

Ngày nay Đảng CS đă mất chính nghĩa, mất hậu thuẫn quần chúng và hậu thuẫn quốc tế. Và phe Dân Chủ chúng ta đă giành lại được chính nghĩa: Chính Nghĩa Tự Do Dân Chủ. Với Chính Nghĩa, chúng ta sẽ tạo Thời Cơ để đấu tranh quang phục quê hương và giải thể CS.
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

&n