“Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện Lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai” 

 

 Tác giả:  trangdenonline/tonghop 

 Ngày đăng: 2/11/2009

 

 

“16 chữ vàng” mới truyền tụng ở Việt Nam: “Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện Lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai”
 
medium_vn_100209_chuyenviahe.jpg

 
 

 

 

H́nh bên: Bia tưởng niệm những người bị quân xâm lược Trung Quốc giết hại hồi tháng 2 năm 1979 ở thôn Tổng Chúp, xă Hưng Đạo, huyện Ḥa An tỉnh Cao Bằng. Theo tác giả, bia này “ch́m trong gai tre và lau lách”. (H́nh: Blog Osin)

LTS.- Bài viết dưới đây đă được đăng trên tờ Sài G̣n Tiếp Thị với khá nhiều thông tin đặc biệt cả về cuộc chiến giữa Trung Quốc-Việt Nam cách nay đúng 30 năm, lẫn thực trạng biện giới Việt-Trung ngày nay. Sau đó bài viết đă được đưa lên website của tờ Sài G̣n Tiếp Thị nhưng được kéo xuống gần như lập tức... Tuy tờ Sài G̣n Tiếp Thị không cho biết lư do, song nội dung bài viết cho thấy, ở đây, không thể có chuyện “tự ư đục bỏ”.

Thêm một lần nữa, chính thực tế cho thấy, từ khi lănh đạo CSVN đă cam kết tôn trọng “16 chữ vàng” trong quan hệ với Trung Quốc mỗi khi lănh tụ hai nước gặp nhau (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” - đă được dân chúng trong nước sửa lại thành “láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai”), theo “tinh thần 4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt - trong một bài khác trên blog Osin, tác giả bài viết dưới đây từng than: ...Thật không dễ dàng ǵ khi biết một kẻ đang ŕnh rập bên ta mà vẫn phải nghe họ xưng là “láng giềng tốt”, một kẻ đem tàu chiến sang giết người giữ đảo của ta vẫn xưng là “đồng chí tốt”, một kẻ dùng áp lực để đuổi đối tác t́m dầu của ta mà vẫn nhận là “bạn bè tốt”, một kẻ ngang nhiên hút dầu ngoài biển của ta mà vẫn phải gọi là “đối tác tốt” ), không ai được quyền nhớ hoặc ghi nhận những vấn đề vốn thuộc về lịch sử nếu chúng không phù hợp với lợi ích của những kẻ có quyền...

Biên giới Tháng Hai (2009-1979)

Huy Đức

Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên pḥng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Śn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xă Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai ḿnh, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.

“Những đôi mắt”

Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hăy c̣n rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đă quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đă bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xă Thanh Ḥa th́ lại gặp quân Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đă báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.

Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của ḍng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xă Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao ḿnh lại chạy!” Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm v́ được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đă bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ư ới và tiến vào từng đoàn.

“Cuộc Chiến 16 Ngày”

Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên pḥng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ư kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi v́ ông bị mất ngủ v́ căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.

Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng biên pḥng đều được triệu tập về thị xă Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ t́m về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đă tấn công rồi. Sáng 17-2, tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xă”; đại đội 22 của thị xă Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nh́n thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ th́ tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.

Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lào Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xă Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xă.

Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị biên giới đă nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại Học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đă gọi con đường tiến vào thị xă Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Śn, cũng đă khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ măi h́nh ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đ̣n vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Ŕ; Chủ tịch nước ra lệnh “Tổng Động viên”... ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.

Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn... bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công tŕnh, ốp ḿn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hăm hiếp, bị giết một cách dă man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Th́, tại thôn Tổng Chúp, xă Hưng Đạo, huyện Ḥa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đă giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.

Lặng Lẽ Hoa Đào

Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nh́n ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1,680 ngôi mộ. Trong đó, 1,600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại ḥng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đă phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sĩ đă hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sĩ xếp chồng lên nhau. Trong số 1,600 liệt sĩ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết năm 1988, c̣n có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn c̣n. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nh́n thấu xuống thị xă Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đă bắn vào thị xă.

Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H'mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đă t́m được cho ḿnh cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và ḥa b́nh là vô cùng quư giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết v́ đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.

Quá khứ, rất cần khép lại để cho những h́nh ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đă thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nh́n sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sĩ quan biên pḥng, Trung Quốc gọi là “đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đă được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đă cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Śn, t́m tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, bí thư chi bộ, nguyên huyện đội phó Ḥa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đ́nh, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp h́nh bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đă ch́m trong gai tre và lau lách.

 

Tác giả:  trangdenonline/tonghop

 
   

Nguồn trangdenonline.com

 

 

Trở về trang chính