Danh Mục

Trang Chính

Tin Tức - Thời Sự

Kinh Tế - Chính Trị

Xã Hội - Môi Trường

Nhân Quyền

Tôn Giáo

Văn Hoá - Giáo Dục

Đất Nước - Con Người

Lãnh Thổ - Lãnh Hải

Y Tế - Sức Khỏe

Thơ

Âm Thanh

Audio Đấu Tranh

Nhạc Đấu Tranh

Video Nhạc Đấu Tranh

Video Nhạc Quê Hương

Nghệ Thuật - Giải Trí

Tài Liệu Lưu Trữ

  

 

Xin Giới Thiệu Qúi vi. trang web Góp Ý Kiến và Bài Vở.   Hay Len Tieng 

   

 Mênh mông hận nước

 
 

Tác giả:  Việt Dương

 

 

Ngày đăng: 2/22/2009

 

 

Mênh mông hận nước

Rước voi dầy mồ
Nước mất nhà tan.
Tục ngữ


Ngày 28 tháng chạp Âm lịch (24/1/2009), Ban Liên Lạc Đồng Hương Thanh Hóa ở Hà Nội đă đến biếu quà tết cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu tại tư gia. Nhân dịp này, ông Phiêu đă dẫn các thành viên trong đoàn đi thăm nhiều nơi trong toà nhà mới và cuối cùng đă tặng cho mỗi người một tập sách do ông tự viết về đời ḿnh với nhan đề: "Mênh mông t́nh dân". Nhan đề tập sách đẹp và cuộc đời của lê Khả Phiêu cũng rất đặc biệt trong binh nghiệp và chính trị của đảng Cộng Sản.

 

Về binh nghiệp, ông Phiêu đă nhập bộ đội từ một lính trơn năm 1950 lên tới thượng tướng năm 1992. Và trong suốt đời binh nghiệp, ông chỉ chuyên trách về chính trị, từ chính trị viên đại đội lên tới chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (1991).

C̣n về chính trị, Lê Khả Phiêu cũng lên rất nhanh, từ ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương năm 1991 lên tới Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành Trung Ương năm 1997, và đă giữ nhiệm vụ này trong 4 năm (1997-2001).

Không hiểu Lê Khả Phiêu đă viết những ǵ trong "Mênh mông t́nh dân", nhưng chúng ta có thể h́nh dung là ông đă viết về cuộc đời cách mạng của một đảng viên Cộng Sản, chiến đấu chống thực dân, đế quốc giải phóng đất nước và làm cách mạng xă hội để đem lại tự do hạnh phúc cho nhân dân như tất cả các đảng viên Cộng Sản đă tự nhận là những người đầy tớ trung thành của nhân dân. Với cái tên T́nh Dân, không hiểu ông Phiêu muốn nói về cái t́nh của dân đối với ông, đối với lănh đạo, với đảng Cộng Sản hay ông muốn ám chỉ cái t́nh rộng lớn của ông đối với nhân dân. Dù ư ǵ th́ "Mênh mông t́nh dân" cũng hàm ư về thứ t́nh hỗ tương giữa lănh đạo với dân và dân với lănh đạo, với đảng.

Làm cách nào để đo lường, để h́nh dung cái t́nh này. Nếu đo bằng lời th́ trừu tượng vô cùng mà lời th́ cũng đă có quá nhiều trong ngôn ngữ của đảng, của các cấp lănh đạo trên nửa thế kỷ nay. May mắn là trong dịp Ban Liên Lạc Đồng Hương Thanh Hóa tới tư gia ông Phiêu đă ghi lại được một ít h́nh ảnh và đem công bố trên mạng, nên chúng tôi xin ghi lại đây ít điều về đời sống của ông Phiêu qua ảnh để so sánh với đời của đa số nhân dân đang sống quanh ông, để từ đó có thể nhận rơ sự biểu hiện của cái t́nh Mênh Mông giữa ông Phiêu với nhân dân.

I. Đời quan

Tầng lớp lănh đạo đảng Cộng Sản sống kín cổng cao tường và trên 20 năm nay, sau việc quay về làm ăn với tư bản đă trở thành triệu phú, tỷ phú là điều không lạ ǵ với người dân. Nhưng người ta chỉ có thể nh́n ở ngoài và hiểu thầm với nhau như thế, c̣n không mấy người có thể nh́n vào bên trong của thế giới lănh đạo này. Có lẽ ông Phiêu “cởi mở” hơn, nên đă cho đoàn đồng hương Thanh Hóa chụp nhiều ảnh ghi lại cuộc chúc tết và cho phép phổ biến. V́ thế chúng ta mới thấy được một phần đời sống của ông cựu tổng bí thư đảng Cộng Sản.

Trước hết đó là ṭa nhà mới của ông Phiêu ở số 7/36 C1 Lư Nam Đế, Hà Nội. Ṭa nhà 4 tầng trị giá 5 triệu mỹ kim. Từ tầng 4 có thể nh́n bao quát thành phố Hà Nội, chẳng hạn nh́n rơ khu Bộ Quốc Pḥng và cột cờ thành phố.

Pḥng khách rộng lớn, thiết trí như một đại sảnh với nhiều thứ quí giá. Ảnh cho thấy:
- Lọ lục b́nh cổ lớn nhiều màu bài trí khắp nơi với nhiều bức tranh lớn, ảnh Karl Marx, Lenin và Hồ Chí Minh.
- Những tủ sách cao, đầy ắp những bộ sách dày b́a cứng. Chắc hẳn đó là những tập sách kinh điển của Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, và có thể là những bộ bách khoa toàn thư…
- Cùng với sách là những bức họa, ảnh và tượng của lê Khả Phiêu ở khắp đại sảnh. Trong đó nổi bật là bức chân dung Lê Khả Phiêu trong khung lớn dát vàng trên nền đỏ, phía trước chân dung có bộ ngà voi lớn chầu đặt trên một tác phẩm điêu khắc bằng gỗ quí, theo lời chú trong ảnh th́ giá không dưới 50.000 mỹ kim.
- Ảnh cho thấy 2 thứ đặc biệt: Thứ nhất, đại sảnh trưng bày trống đồng Đông Sơn, bảo vật của quốc gia. Như vậy là ông Phiêu đă lấy đồ quốc bảo ở bảo tàng viện về làm của riêng. Thứ nh́ là bàn thờ với pho tượng Phật lớn và bên cạnh tượng Phật là tượng Hồ Chí Minh.

Ngoài đại sảnh, khách được dẫn lên sân thượng và ở đây ảnh cho thấy vườn rau xanh, trồng nhiều loại rau theo từng ngăn và được chăm sóc bằng hệ thống tự động với phí tổn thiết kế, theo lời chú trong ảnh là khoảng 20.000 mỹ kim. Vậy là gia đ́nh ông Phiêu đă không ăn rau của nhân dân trồng v́ có nhiều chất độc hại. Từ vườn rau trồng trên trời, gia đ́nh ông có thể tránh chất độc của rau chợ, nhưng c̣n cá thịt, bánh trái, sữa, nước và không khí th́ ai cung cấp, và đáng nói hơn là nhân dân thành phố Hà Nội đang ăn rau độc hại, đang uống nước ô nhiễm… T́nh dân Mênh Mông mà sao lại cách biệt giữa chuyện ăn uống giữa quan và dân. Thời ông Phiêu nhập Việt Minh năm 15 tuổi ở Thanh Hóa th́ ông ăn ǵ, uống ǵ và mấy chục năm qua ông sống với ai?


 


II. T́nh dân

Xin ghi lại một số cảnh đời của dân trong giai đoạn đổi mới kinh tế mà ông Phiêu và các quan Cộng Sản thành triệu phú, tỷ phú.

1. Dân đói rét:
Trong bài kư “
Nông Dân và Đất”, nhà báo Vơ Đắc Danh đă ghi lại t́nh cảnh của “Nông dân xă Khánh B́nh Tây thuộc Cà Mau, một xă có 2600 hộ dân với hơn 40% sống dưới mức nghèo khổ, trong đó có gần 500 hộ dân không có đất, nghĩa là có hàng ngàn con người trên cái vùng đất nhỏ nhoi này không biết phải làm ǵ để sống. Làm mướn ư? Đâu phải lúc nào cũng có người ta mướn để mà làm. Mùa gặt họ vào nông trường săn chuột, bắt ốc, hái rau th́ bị xô, bị tịch thu phương tiện, bị đánh đập, thậm chí bị bắn trọng thương, bởi dưới con mắt của cán bộ nông trường, họ là nhũng phần tử bất hảo cần phải cách ly. Nhiều người kéo nhau ra biển xúc cua giống để bán th́ bị các anh bảo vệ nguồn thủy sản vây bắt v́ cái tội ăn trộm tài nguyên thiên nhiên”.

Ngày nay trên khắp nước có những chợ người, như những vùng biên giới Tàu Việt, biên giới Căm Pu Chia là chợ của dân cửu vạn đi chuyên chở hàng lậu, chợ của phụ nữ đi bán thân, nhưng ngay ở thủ đô Hà Nội, trên đường Giảng Vơ và nhiều đường khác có những chợ đầy người, ngày ngày chờ ai đó tới thuê để bán sức lao động độ nhật. Dân Hà Nội gọi đó là chợ người.

Nhà báo tự do (blogger) Tạ Phong Tần, trong bài “
Lại thêm 1 người nh́n thấy “Thiên Đường”, có đoạn viết: “Mùa đông năm nay, thủ đô Hà Nội đă xảy ra t́nh trạng nông dân lê tấm thân ra thành thị kiếm miếng ăn và chết đói, chết rét vạ vật trước hiên nhà người khác như thời “nô lệ” trước tháng 8 năm 1945. Mới ngày 21/11/2008 vừa rồi, người dân Hà Nội đă phải chứng kiến một thanh niên quê Phú Thọ mới 34 tuổi, làm nghề đánh giày, đă chết ở hiên nhà khu tập thể Thành Công. Ngày 5/1/2009 lại thêm 1 người đàn ông trẻ khoảng 35- 40 tuổi chết ở vỉa hè phố chùa Bộc “Sau khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu, người đàn ông kể trên đă chết v́ lạnh cóng”.

Người chết không phải là những con nghiện hay thành phần lang thang ngoài phố chờ cơ hội trộm cắp, cướp giật, cũng không già tuổi đến mức độ sức khỏe giảm sút, cũng không bị bệnh tật từ trước hay bị thương tích dẫn đến suy kiệt cơ thể; họ có sức khỏe và chăm chỉ làm lụng kiếm đồng tiền chân chính để sống; cay nghiệt thay, vậy mà họ vẫn phải chết. Hai cái chết thương tâm của 2 người trẻ v́ đói rét, tha phương cầu thực, không nơi cư trú”.

Báo điện tử Dân Trí ngày 6/2/2009, trong bản tin “
Dân đổ xô cướp gà tiêu hủy
” đưa tin: “Chiều ngày 5/2, Chi Cục Thú Y Hà nội đă chở 1500 con gà bệnh (khoảng 3 tấn) đến băi cát xă Hồng Vân, thường Tín để tổ chức tiêu hủy. Tuy nhiên tại đây, khi lực lượng chuyên ngành bắt đầu đưa gà xuống hố chôn theo quy định th́ người dân địa phương đă đổ xô vào cướp gà. Do lực lượng chức năng quá ít, trong khi người dân lại đông nên đành bó tay. Người dân nhảy cả xuống hố để lấy gà, ném lên cho người đứng trên bờ cho vào bao tải. Tiếp đến, người dân đổ xô vây lấy xe chở gà và trèo lên cả xe để cướp. Thậm chí, để tiện cho việc lấy gà, có người c̣n leo lên ca bin, lái chiếc xe chở gà ra giữa băi cát.

Kết quả là chỉ khoảng 20% số gà nói trên được tiêu hủy, c̣n lại đă bị cướp hết. Ngoài ra có những con gà chết bị vứt vương văi khắp nơi”.

2. Dân oan
Từ thập niên 1990 đến nay, chính sách thu hồi đất của nhà nước xă hội chủ nghĩa để giải phóng mặt bằng xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, sân golf… đă biến 7 triệu nông dân thành dân không có đất sinh nhai. Trong đó, nhân danh chính sách thu hồi đất để phát triển kinh tế, các ông quan Cộng Sản địa phương, tỉnh, huyện, xă đă cướp đất của dân để làm của riêng, để bán cho tư bản đă tạo thành những lớp sóng phẫn nộ, phản kháng trên khắp nước. Để đối phó với vấn đề này, nhà nước đă thiết lập nhiều Văn Pḥng Tiếp Dân từ tỉnh tới thành phố, quốc hội, thủ tướng để người dân bị cướp đất, nhà cửa, ruộng vườn tới nạp đơn khiếu kiện. Có được cửa công lư nên dân đă tới, nhưng đâu biết đó là một thứ công lư giả nên đơn khiếu kiện chồng chất từ năm này đến năm khác không được xét sử với đủ thứ lư do. Xét xử làm sao khi tất cả từ trên xuống dưới đều là một bọn tham quan có đảng bảo vệ để độc quyền tham nhũng th́ ai xử ai? V́ thế, những Văn Pḥng Tiếp Dân ở Hà Nội (khu vườn hoa Mai Xuân Thưởng và 110 Cầu Giấy) và ở Sài G̣n (210 Vơ thị Sáu) đă trở thành những Công Trường Đ̣i Công Lư. Dân oan lấy vườn hoa, hè đường làm nhà và áo họ đă trở thành những tấm biểu ngữ (để công an nhân dân không thể cướp và xé) tố cáo đích danh những ông quan địa phương: Chủ tịch xă, huyện và tỉnh đă cướp nhà cửa, ruộng vườn của họ. Khi dân oan tụ tập đông quá trong thời gian quốc hội họp, hay có những phái đoàn quốc tế tới thăm th́ công an nhân dân lại đem lực lượng cơ động đến bao vây, bắt dân oan quẳng lên xe chở tới giam vào một nơi nào đó, hoặc chở đi đổ xuống một vùng xa thành phố. Rồi sau đó, từng lớp dân oan bị giải tán lại t́m đường trở lại Văn Pḥng Tiếp Dân (tên đẹp mà sao nơi này lại nhiều uất hận). Có nhiều người đă đi nhặt rác hay ăn xin để có thể ở lại thành phố lâu ngày.

Thảm kịch dân oan đă quá lâu, quá lớn và đă trở thành một phần lịch sử của chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ vô sản tiến về tư sản. Ở đây, xin ghi lại hai trường hợp mới nhất biểu hiện rơ nét về t́nh dân và t́nh quan:

Thứ nhất là dân oan lạy quan cộng sản:
Ông Nam B́nh ở Cần Thơ, trong bài “
Việt Nam ngày nay: Dân cày mất ruộng” đă viết:
“Lăo nông Lâm Văn Phát từ huyện Thạnh Trị, Sóc Trang đội đơn ra quỳ lạy ở số 48 Lư Thường Kiệt, đ̣i lại 5000 mét vuông đất thấy mà xót xa. Bà Nguyễn Minh Chiếu ở An Giang bị cướp mất 70 công đất và 650 giạ lúa lại bị tù 3 năm v́ lũ cướp ngày gian ác. Bà đă lăn lết ra Hà Nội để đ̣i công lư, nhưng công lư xa vời quá.
H́nh ảnh ông Nguyễn Thanh Đạo ở Mộc Hóa, Long An quỳ lạy ở nhà ông Đặng Quang Phương, Trần Văn Tú là những phó chánh án (?) Tỏa Án Tối Cao ở Hà Nội thấy đau ḷng quá. Thức cả đêm chờ đến sáng các quan này đi làm, chờ cổng mở, quỳ xuống đội đơn trên đầu và lạy theo từng bước chân các quan. Nhưng các quan này y hệt bọn đàn em cướp đất dân nghèo, lạnh lùng bước lên xe hơi, đóng cửa cái rầm kèm theo vài lời chửi mắng. Vậy mà dân oan vẫn chờ đợi và quỳ lạy, v́ họ không c̣n đường nào khác, quay về nhà th́ đất bị cướp mất rồi”.


Thứ nh́ là tiếng khóc của dân Văn Giang:
Trong tháng 12/2008 có nhiều vụ chính quyền điạ phương sử dụng lực lượng công an, bộ đội để cướp đất của dân, chẳng hạn ở ấp T4 xă Vĩnh Phú, Kiên Giang (17/12), ở các phường Vĩnh Ban, Vĩnh Lạc, An Ḥa, Rạch Giá. Nhưng đáng kể là
vụ chiếm đất 3 xă Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
. Theo bản tin của nhóm Phóng Viên Nhân Quyền th́ dân 3 xă trên, khoảng 23.000 người, có hơn 500 hec ta đất làm vườn và trồng cây cảnh để sinh nhai, nhưng đă bị chính quyền ra lệnh thu hồi bán cho công ty Việt Hưng để công ty này xây dựng khu đô thị (biệt thự, sân golf) và đă đền bù với giá rẻ mạt: 135.000 đồng/m2, trị giá tương đương với 10 kí gạo. Trong khi đó lănh đạo chính quyền th́ bán trao tay nhau với giá 6 triệu/m2. Khi dân hỏi tại sao bù cho dân 135 ngàn lại công khai rao bán trên mạng là 6 triệu/m2 th́ ông chủ tịch xă trả lời rằng: Đi buôn phải có lăi!

Trước sự tước đoạt để mua bán trắng trợn đó, dân 3 xă đă chống lại, quyết giữ đất bằng cách thay phiên nhau đêm ngày canh đất, canh cây. Cuối cùng ngày 25/12/2008, chính quyền huyện Văn Giang đă huy động hàng trăm công an, lực lượng cơ động, cả thành phần đầu gấu cùng các phương tiện cơ giới đến cày, san ủi cơ nghiệp mồ hôi, nước mắt của dân. Khi dân Văn Giang giàn hàng ngăn cản xe ủi th́ công an, bô đội huyện đă thẳng tay đàn áp, kéo, lôi, ném những người dân cản đường lên bờ như ném những con vật, rồi đấm đá, dùng dùi cui điện đánh vào dân bất kể già trẻ làm nhiều người bị thương và ngất xỉu.

Bị chính quyền đàn áp dă man, nên ngày 7/1/2009, trên 2000 dân Văn Giang đă kéo lên Hà Nội biểu t́nh trước văn pḥng thủ tướng để bày tỏ nỗi oan. Ở đây họ đă không được gặp một vị quan nào để nói lên nỗi oan mà lại bị lực lượng công an, cảnh sát cơ động và thành phần xă hội đen đàn áp dă man hơn. Cứ 2, 3 tên túm một người quẳng lên xe bít bùng, rồi chở về Văn Giang, liệng xuống ven đê sông Hồng, giữa sự vật vă, lê lết cùng tiếng khóc của hàng ngàn con người.

Với sức mạnh của chuyên chính (công an, bộ đội, xă hội đen), chính quyền sẽ tước đoạt được đất sống của dân Văn Giang để xây khu đô thị Văn Giang. Nhưng trước thảm cảnh này, chúng ta tự hỏi là chính quyền xây cất khu đô thị cho ai và để làm ǵ để phải quăng dân Văn Giang ra ngoài thứ đô thị này mà dân Văn Giang không có quyền biết đến, không có quyền tham gia xây dựng như khẩu hiệu nhật tụng của nhà nước Xă Hội Chủ Nghiă: Dân Biết, Dân Bàn, Dân Kiểm Tra, Dân Hưởng Thụ. Câu trả lời đơn giản là nhà nước liên kết với tư bản để xây khu đô thị cho một loại dân khác, gồm những thành phần giàu có của đảng, của tư bản nước ngoài, của tầng lớp thành đạt trong nền kinh tế thị trường xă hội chủ nghĩa. V́ thế mới có chuyện cướp đất đi buôn của chủ tịch Nguyễn Cảnh Hưng. Ông ta nói: Đi buôn phải có lăi. Tất nhiên là như thế, nhưng sao không cho dân Văn Giang một phần cái lăi này? Các ông quan vô sản cũng không thể làm như thế, không thể chia cái lăi của nghề đi buôn không vốn này cho ai. V́ với tiền bán đất cùng đủ thứ làm ăn chia chác với tư bản th́ sau khi giải quyết xong dự án đô thị Văn Giang, chỉ một bước nhiều quan chức vô sản của tỉnh, huyện sẽ trở thành triệu phú, tỷ phú. Do đó họ phải hy sinh 23.000 người dân Văn Giang cho sự nghiệp làm giàu của họ như nhiều nơi khác trên khắp nước, dân cũng đă phải hy sinh như vậy. Đến như những miền ven biển, nhiều nơi dân chài phải than là các cấp lănh đạo đă bán hết bờ biển cho tư bản nước ngoài xây dựng khu du lịch đến nỗi họ không c̣n chỗ để đậu ghe thuyền đánh cá.

Chuyện xây dựng kinh tế, xây dựng khu đô thị th́ trên thế giới, nước nào cũng làm. Chẳng hạn như những quốc gia ở Á Châu như Nam Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân, Thái Lan, Mă Lai… mấy chục năm qua, người ta đă xây dựng nhiều khu đô thị, khu chế xuất, khu viên kỹ nghệ, nhưng không ở đâu có chuyện chính quyền huy động lực lượng cảnh sát, quân đội, băng đảng xă hội đen đến cưỡng chế, cướp đất của dân bán cho công ty tư bản, rồi mặc xác đám dân sau đó sống ra sao không cần biết. Và người ta cũng có bờ biển, có làng đánh cá, nhưng chắc chắn không đâu có thảm kịch chính quyền bán bờ biển cho tư bản nước ngoài làm khu du lịch để dân đánh cá không c̣n chỗ đậu tàu thuyền. Cũng cần nói thêm một điều là những quốc gia ấy đă phát triển kinh tế rất nhanh, nhưng dân có quyền và chính quyền tôn trọng dân. Từ đó nước có quy củ và người dân quí trọng lẫn nhau. Cứ quan sát dân Hàn, dân Đài Loan sẽ thấy họ đối xử lễ độ, tôn trọng nhau ở bất cứ đâu trong đời sống thường nhật và chúng ta sẽ thương dân ta, rồi tự vấn: Tại sao họ có thể sống như thế mà ta lại không?

Trên đây chúng tôi ghi lại ít t́nh cảnh đời dân dưới chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa, và tự hỏi không hiểu trong tác phẩm hồi kư “Mênh mông t́nh dân”, ông Lê Khả Phiêu đă ghi lại thứ t́nh này như thế nào và ông đă làm ǵ để đáp lại thứ t́nh Mênh Mông này?

III. Hận nước


Ngoài t́nh dân, đời của ông Phiêu c̣n gắn liền với nước, v́ ông đă chiến đấu một đời cho độc lập, tự chủ của Việt Nam mà chắc nội dung tác phẩm “Mênh mông t́nh dân” sẽ phải nói đến những chuyện này. Cũng như t́nh dân, chúng ta không biết ông Phiêu viết về t́nh nước ra sao. Nhưng trong 4 năm làm Tổng Bí Thư với tinh thần khép ḿnh, phụ thuộc t́m nơi nương tựa như ông nói: “Trung Quốc thành công th́ chúng ta thành công”, Lê Khả Phiêu đă cắt nhiều đất biên giới và biển cho Tàu bằng 2 hiệp định:

Thứ nhất là Hiệp Định Về Biên Giới Việt Nam Trung Quốc, kư tại Hà Nội ngày 30/12/1999 giữa Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Đường Gia Triền và Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm. Bản hiệp định không được công bố. Nhưng nay qua Bản Lên Tiếng của một số cựu chiến binh và giáo chức khu vực Hà Đông – Hà Nội gởi lănh đạo đảng Cộng Sản ngày 14/1/2009 cho thấy diện tích lănh thổ đă mất 1694 km2 (v́ sách giáo khoa cũ và niên giám 1996 ghi diện tích Việt Nam là 336.991 km2, c̣n sách giáo khoa in năm 2006-2007 lại ghi 329.297 km2), trong đó khu vực danh thắng thác Bản Giốc thuộc Cao Bằng và khu địa linh Ải Nam Quan ở Lạng Sơn đă thuộc Trung Quốc như thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng mới công bố sau khi hoàn tất việc cắm mốc biên giới ngày 22/12/2008.

Thứ nh́ là Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc, kư ngày 25/12/2000 giữa Nguyễn Mạnh Cầm và Đường Gia Triền. Bản hiệp định cũng không được công bố, nhưng theo những nguồn tin được tiết lộ th́ với hiệp định này, Việt Nam đă mất cho Tàu trên 10.000 km2 biển.


Sau khi Lê Khả Phiêu cống cho Tàu gần 2000 cây số vuông đất biên giới và trên 10.000 cây số biển, Nông Đức Mạnh cùng với Đỗ Mười, Trần Đức Lương, Lê Đức Anh và Phan Văn Khải đă mở đường cho Trung Quốc xâm lấn Việt Nam theo chính sách “Hợp Tác Toàn Diện Giữa Các Ngành Ngoại Giao, Quốc Pḥng, Công An, An Ninh…” qua tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc ngày 17/11/2006 trong dịp Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt Nam. Và với mỹ từ hợp tác toàn diện, Tàu đă khống chế Việt Nam từ đất đến biển:

Với biển, Trung Quốc tuyên bố Nam Hải thuộc chủ quyền của Trung Quốc với luận điểm hàm hồ là từ thời Hán Vũ Đế (trên 2000 năm trước) và thời Minh thành Tổ (thế kỷ 15), hải quân Trung Quốc đă đi tuần thám Nam Hải và đă khám phá ra Hoàng Sa và Trường Sa. Từ luận điểm hoang đường về chủ quyền này, Trung Quốc khai thác Hoàng Sa, lấn chiếm Trường Sa, không cho Việt Nam đánh cá và thăm ḍ dầu khí ở vùng Hoàng Sa và Trường Sa. V́ thế, từ năm 2005 ngư phủ Việt Nam ra đánh cá những vùng gần Hoàng Sa và Trường Sa đă bị hải quân Trung Quốc bắt, bắn giết, đâm bể tàu và xua đuổi, c̣n chuyện t́m dầu th́ không một công ty tư bản nào dám liên doanh với Việt Nam để thăm ḍ dầu khí ở vùng Trường Sa v́ bị Trung Quốc cảnh cáo, phản đối là những hoạt động ấy đă vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của Trung Quốc ở Nam Hải, chẳng hạn tập đoàn BP của Anh năm 2007 và tập đoàn Exxon Mobil của Mỹ năm 2008 đă kư hợp đồng rồi đă phải bỏ.

Rồi để thực hiện luận điểm chủ quyền Nam Hải, ngày 22/11/2008, Trung Quốc công bố tập đoàn dầu khí của Trung Quốc (Cnooc) sẽ thực hiện dự án 29 tỷ đô la để thăm ḍ khai thác tại biển Nam Trung Quốc, trong đó có khu vực Hoàng Sa và Trường Sa mà chính quyền Việt Nam cũng tuyên bố có chủ quyền. Tất nhiên đối với việc Trung Quốc làm, bộ ngoại giao Việt Nam cũng như những lần trước đă lên tiếng phản đối với luận điểm “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và có cơ sở pháp lư để khẳng định chủ quyền và các quyền hợp pháp đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam”. Phản đối như thế, nhưng nếu Trung Quốc tiến hành việc thăm ḍ (mà chắc Tàu đă nói là Tàu làm) th́ chính quyền Việt Nam sẽ làm ǵ để ngăn cản hay lại lên tiếng phản đối cho phải đạo để dối dân, rồi im lặng tuân thủ chính sách 16 chữ vàng và 4 tốt: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai và măi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.

Đó là chuyện mất biển, c̣n chuyện lănh thổ th́ từ thời Lê Khả Phiêu tới nay, Trung Quốc đă lặng lẽ xâm lấn Việt Nam bằng chính sách 16 chữ vàng như sau:

Về kinh tế:

Từ sau trận chiến “Dạy cho Việt Nam một bài học” năm 1979, Trung Quốc vẫn không ngừng trận chiến phá hoại kinh tế Việt Nam bằng đủ thứ đ̣n hiểm ác. Khởi đầu là thu mua dây điện thoại, xích xe tăng, ṇng đại bác, các loại rễ cây, cây con, sừng móng trâu ḅ, gỗ quí, các loại muông thú rừng, rồi đến biến vùng biên giới thành cửa khẩu để tuồn vào Việt Nam các loại hàng lậu và cả tiền giả.

Về di dân:
Năm 2008, chính quyền Việt Nam đă quyết định miễn chiếu khán nhập cảnh cho người Hoa vào Việt Nam. Quyết định này là một biện pháp giúp người Hoa ở lại Việt Nam dễ dàng, v́ họ có thể nhập vào những cộng đồng người Hoa trên khắp Việt Nam để làm đủ mọi ngành nghề mà ngày nay th́ cộng đồng người Hoa lại có nhiều ưu thế về kinh tế và cả chính trị.

Về chính trị quốc pḥng:
Đảng Cộng Sản Việt Nam bị đảng Cộng Sản Trung Quốc chế ngự có một lịch sử lâu dài, nhưng đến nay, qua chính sách Hợp Tác Toàn Diện, với nhiều sự việc đă xảy ra, có thể nói là bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam đă trở thành cơ quan nội ứng của Tàu, mở đường cho Tàu vào Việt Nam. V́ thế chúng ta thấy:
- Dân Tàu được đi lại, cư trú ở Việt Nam như trên đất Tàu.
- Chính quyền cấm tất cả những biểu lộ và ngôn ngữ chống Tàu của dân Việt.
- Những di tích chống Tàu sau trận chiến 1979 đă bị xóa bỏ. Những nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc trong chiến tranh biên giới Việt Trung đă được đổi tên thành “Nghĩa trang Liệt Sĩ Trung Việt”. Chẳng hạn một tấm ảnh trên trang web www.ykien.net cho thấy Nghĩa Trang Liệt Sĩ Long Châu (Thủy Khấu) ở biên giới tỉnh Cao Bằng đă được đổi thành “
Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trung Việt Thủy Khấu Long Châu” với tượng đài lớn và hai hàng chữ Hoa và Việt. Như thế là Việt Nam đă đồng ḷng với Tàu làm những đài tưởng niệm liệt sĩ Trung Việt ở biên giới để nhớ ơn đoàn quân Tàu đă sang xâm lăng Việt Nam.
- Trung Quốc đă chế ngự Việt Nam ở biển Đông.
- Và đến nay đảng Cộng Sản Việt Nam mời Trung Quốc lên Tây Nguyên với những dự án bauxite. Chuyện bauxite lộ liễu, bất thường và quá nguy hiểm về cả sự tàn phá môi trường lẫn an ninh quốc gia, nên từ tháng 11/2008 đến nay đă dấy lên một làn sóng phản đối từ các giới nghiên cứu khoa học, kinh tế, báo chí và dân chúng trên khắp nước. Cứ đọc bài nghiên cứu đầy tâm huyết của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám Đốc Công Ty Năng Lượng Sông Hồng, bác bỏ dự án mà Nguyễn Tấn Dũng đă duyệt, cùng những ư kiến của mọi giới về bài nghiên cứu này, sẽ thấy ḷng dân phẫn nộ và âu lo như thế nào đối với dự án.

Đến Đại Tướng Vơ Nguyên Giáp cũng phải viết thư gửi Nguyễn Tấn Dũng (5/1/09) đề nghị dừng triển khai các dự án khai thác bauxite. Trong thư ông cho biết là năm 1980, chính phủ đă có chương tŕnh khai thác bauxite trong kế hoạch hợp tác với khối COMECON, nhưng đă phải bỏ v́ sau khi khảo sát, các chuyên gia Liên Sô và khối COMECON đă khuyến nghị Việt Nam không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những tác hại sinh thái lâu dài, nghiêm trọng không thể khắc phục, chẳng những đối với dân cư tại chỗ mà c̣n cả với dân cư vùng đồng bằng Nam bộ. Ngoài chuyện sinh thái, ông c̣n nói đến vấn đề an ninh quốc pḥng và đă nêu lên một sự kiện: Trong tháng 12/2008 đă có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài ngh́n tại mỗi dự án).

Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam đă không đếm xỉa ǵ đến ư kiến của các nhà khoa học, đến ư dân, đến những lời khuyên can đầy lo âu của tướng Giáp, nên Nguyễn Tấn Dũng, trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 4/2/09 đă khẳng định:
Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước.


Chuyện đă đến như thế th́ chỉ có thể giải thích là đảng Cộng Sản Trung Quốc đă biến cả bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam thành nội tuyến mở đường cho Tàu vào xâm chiếm Việt Nam bằng con đường 16 chữ vàng.

Trước đây có những nhận định là Trung Quốc làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, ngoài chuyện kinh tế, Trung Quốc có một lợi thế là dùng hai quần đảo này làm căn cứ để tiến quân cắt đôi Việt Nam ở miền Trung. Nhưng đến nay th́ chuyện dùng Hoàng Sa, Trường Sa làm bàn đạp không cần nữa, v́ với những dự án bauxite cùng chục ngàn lính Tàu giả làm công nhân, Trung Quốc sẽ dễ dàng nắm yết hầu Việt Nam.

Kết luận

Từ câu chuyện Mênh Mông T́nh Dân của Lê Khả Phiêu, chúng tôi xin kết luận mấy điều:

1. Với Lê Khả Phiêu:
Trước hết ông Phiêu là một đảng viên đảng Cộng Sản, đă từng là người lănh đạo tối cao của đảng và trở thành một tỷ phú (theo tin, tài sản có 5 khách sạn 5 sao ở Hà Nội và Sài G̣n, và trên 1 tỷ Mỹ kim), sống xa hoa trên sự đói nghèo, tủi nhục của đa số dân Việt do chế độ độc trị và kinh tế xă hội chủ nghĩa của đảng Cộng Sản tạo ra.

Ông Phiêu nhập vào phong trào Việt Minh từ lúc 15 tuổi, chiến đấu cho độc lập, tự chủ của Việt Nam, nhưng khi lên làm Tổng bí Thư, Lê Khả Phiêu đă quên mất mấy chữ độc lập tự chủ nên đă cắt đất nhượng biển cho Tàu với tinh thần nô lệ: “Trung Quốc thành công th́ ta thành công”.

2. Với đảng Cộng Sản:

Đời của Lê Khả Phiêu cũng như đời của nhiều đảng viên cao cấp của đảng Cộng Sản là đă đạt vinh hoa phú quí trong thảm kịch của nước, v́ khi đảng phát động 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và Việt Nam Quốc Gia (1946-1954), chống Mỹ và Việt Nam Cộng Ḥa (1960-1975) với mục tiêu giành độc lập, th́ trong 2 cuộc chiến tranh hủy diệt gần 4 triệu sinh mạng này đă tiềm phục một mối họa cho nước là đảng Cộng Sản đă không độc lập tự chủ với Nga, Tàu v́ đă nhận viện trợ để làm một tên lính xung kích cho Liên Sô và Trung Cộng phát triển đế quốc Cộng Sản. V́ thế, khi thế giới Cộng Sản tan ră th́ đảng Cộng Sản Việt Nam đă đưa Việt Nam vào ṿng lệ thuộc Trung Quốc theo tham vọng bành trướng của đảng Cộng Sản Trung Quốc như lời của Mao Trạch Đông đă nói với lănh đạo Cộng Sản Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963: “Tôi sẽ làm chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Á”“Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po. Một vùng Đông Nam Á rất giàu, ở đây có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy” (Bạch Thơ - Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam – Trung Quốc Trong 30 Năm Qua”.

Trong đời Mao, Mao chưa thực hiện được giấc mộng đế quốc Đại Hán, nhưng tới thập niên 2000 th́ đảng Cộng Sản Trung Quốc đă có Việt Nam trong tay và đă có thể tung hoành ở biển Đông. V́ thế năm 2000 và 2006, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào đă từ Bắc Kinh đến thẳng Hội An tắm biển, nh́n ra Hoàng Sa, Trường Sa trước khi ra Hà Nội ban chỉ thị cho lănh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam. Hành động của Giang và Hồ cao ngạo bất thường, nhưng hai tên này đă làm như thế để nói với thế giới là Việt Nam và Nam Hải đă thuộc quyền của Trung Quốc.

Và đến nay th́ Trung Quốc đă đi dần tới việc kiểm soát Việt Nam toàn diện khi có thể thung dung đem quân lên Tây Nguyên vừa khai thác bauxite vừa chiếm giữ hiểm địa cao nguyên để thực hiện tham vọng bành trướng Đại Hán mà Mao đă vạch ra từ thập niên 1960.

3. Với đảng viên đảng Cộng Sản:
 

Trước những thảm kịch đang diễn ra trong xă hội Việt Nam, chúng ta thấy là 3 triệu đảng viên đảng Cộng Sản, từ thấp tới cao, đă dùng đất nước như của riêng và bóc lột 80 triệu dân, coi dân như những súc vật, để làm giàu cho cá nhân, nhưng họ đă quên một mối họa là rồi đây chính họ, con cháu họ sẽ trở thành những tên nô lệ của đế quốc Tàu, và lúc đó họ và dân Việt lại thành những con vật dưới ách thống trị của thực dân Tàu. Khi đó ai là Việt, ai là Tàu? Ai là kẻ thống trị và ai là kẻ bị trị?

Từ một số sự việc ghi lại trên đây xin thưa là trên nửa thế kỷ thống trị với chế độ chuyên chính, đảng Cộng Sản Việt Nam đă gây nên những thảm họa cho dân, cho nước như thế th́ làm ǵ có chuyện t́nh dân, t́nh nước mà Lê Khả Phiêu lại lộng ngôn với tác phẩm “Mênh mông t́nh dân”?

Chúng ta hiểu những người lănh đạo Cộng Sản luôn luôn dùng mỹ từ xảo trá để quay lưng lại những sự thật đen tối đau ḷng. V́ thế chúng ta phải kéo họ quay lại một sự thật, một Thực Từ là đảng Cộng Sản Việt Nam, là chính họ đă tạo cho nước một bộ sử: Mênh Mông Hận Nước.

Việt Dương

 

Nguồn trangdenonline.com