Nhục nước hại dân  

 

Tác giả:  Phạm Trần 

 

Danh Mục:  • Lănh Thổ - Lănh Hải 

 

 

Ngày đăng: 1/20/2009

 

 

 

Nhà nước quanh co giữa Bản Giốc và Ải Nam Quan

Trước Tết Kư Sửu, đảng Cộng sản Việt Nam có hai hành động làm nhục Tổ Quốc và muối mặt Nhân Dân mà vẫn nghĩ là ḿnh sáng suốt, là đỉnh cao.

Thứ nhất là việc đảng đă đặt ḿnh vào ṿng cương toả của Tàu một-trăm-phần-trăm; thứ hai là quyết định đặc xá cho những kẻ tham nhũng để sỉ nhục những ai c̣n muốn làm sạch đảng để cứu nước.

Việc thứ nhất thể hiện qua ngôn ngữ trơ trẽn của Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao khi hết lời ca ngợi việc hoàn tất cắm mốc phân chia biên giới giữa Tàu và Việt Nam ngày 31-12-2008, căn cứ theo Hiệp định năm 1999.

Ông Khiêm nói: “Kết quả trên có được trước hết là nhờ sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Lănh đạo cấp cao hai Đảng và hai Nhà nước; những nỗ lực không mệt mỏi của hai Đoàn đàm phán cấp Chính phủ; sự cố gắng vượt bậc của các lực lượng phân giới cắm mốc thuộc các Bộ, ngành, địa phương và đông đảo đồng bào dân tộc các tỉnh biên giới của chúng ta đă vượt qua bao khó khăn gian khổ để bảo đảm tiến độ phân giới cắm mốc. Đó cũng là sự hội tụ công lao, đóng góp của nhiều thế hệ đi trước, sự đồng t́nh và ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài; là thành quả của tinh thần độc lập tự chủ, nắm vững và vận dụng hiệu quả luật pháp quốc tế, tiếp thu kinh nghiệm giải quyết hoà b́nh các tranh chấp về biên giới lănh thổ của các nước khác”.

Trước hết, không có “thế hệ đi trước” nào của tổ tiên người Việt đă đóng góp vào âm mưu dâng đất cho Tàu của đảng CSVN. Từ ngàn xưa, lịch sử Việt Nam đă viết rơ như ban ngày:” Nước Việt Nam chạy dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau", và những kẻ cấm quyền trong đảng CSVN, từ Hồ Chí Minh trở xuống và con cháu họ, cũng đă học thuộc ḷng như thế qua nhiều thế hệ. Thế mà ngày nay, sau khi phải chịu sức ép không cưỡng nổi của Bắc Phương để bảo vệ quyền lợi cá nhân, phe đảng mà đảng CSVN đă phải gạch bỏ mấy chữ “Ải Nam Quan” và chỉ nói tỉnh Cao Bằng là cái đấu của nước ta !

Thứ đến, cũng chẳng làm ǵ có chuyện như ông Khiêm bịa đặt rằng việc làm bán đất của họ đă được “sự đồng t́nh và ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài”.

Cả dân tộc, trong và ngoài nước là chủ nhân của đất nước, nhưng nhúm 3 triệu đảng viên đảng CSVN đă tiếm dụng đặc quyền này để coi đất nước là của riêng ḿnh, cam tâm qùy phục trước áp lực để dâng đất, nhượng lănh hải cho Tàu phương bắc qua hai Hiệp định 1999 và 2000.

Nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở ngoài nước đă bị đảng coi thường, bị “bịt mắt bắt dê”, từ chối mọi yêu cầu công khai hai Hiệp định để cho dân kiểm chứng. Cả cái Quốc hội bù nh́n, tay sai của đảng cũng đă nhắm mắt thông qua Nghị quyết công nhận Hiệp định biên giới 1999 , dù không được đảng cho đọc một chữ và cũng chẳng biết h́nh dạng của biên giới bây giờ ra sao !

Cả dân tộc bị đảng Cộng sản gạt ra ngoài hành lang pháp lư để cho một thiểu số lănh đạo được tự do tung tác buôn bán, đổi chác đất của Tổ tiên.

Sự sợ hăi, khiếp nhược của đảng CSVN đă rơ như thế mà vào ngày 1-1-2009, Vũ Dũng, Thứ trường Ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lănh thổ Việt Nam – Trung Quốc vẫn c̣n trâng tráo: "Chủ quyền lănh thổ là vấn đề mang tính nguyên tắc, không thể nhân nhượng. Do lịch sử để lại, có những khu vực quá canh, quá cư, Hai đoàn đàm phán đă nhất trí linh hoạt điều chỉnh trên cơ sở cân bằng lợi ích. V́ vậy, không thể có chuyện “Việt Nam mất đất”, “cắt đất” cho nước này, nước kia như một số mạng nước ngoài đưa tin. Chỉ có thể giải thích rằng những mạng này hoặc do thiếu thông tin hoặc cố t́nh làm sai lệch thông tin v́ những ư đồ khác nhau". (VietNamNet, ngày 02/01/2009)

Riêng về thác Bản Giốc, ông Dũng nói với báo chí của nhà nước: “Tại thác Bản Giốc, thác cao và là thác phụ hoàn toàn thuộc Việt Nam, với thác chính hai bên thoả thuận đường biên giới đi từ mốc 53 cũ, qua cồn P̣ Thoong, đến điểm giữa của mặt thác chính, sau đó tiếp tục đi theo ḍng chảy chính của sông Quây Sơn. Tại cửa sông Bắc Luân, đường biên giới bắt đầu từ thượng lưu băi Tục Lăm đến điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc Bộ. Với việc hoàn thành phân giới khu vực cửa sông này, Việt Nam và Trung Quốc đă xác định xong đường biên giới hoàn chỉnh dài hơn 1400km từ Tây sang Đông, nối tiếp với đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ. Việc giải quyết hai khu vực này là phù hợp với luật pháp quốc tế, với Hiệp ước 1999 và về cơ bản đă đáp ứng được quan tâm của cả hai bên.

Hai bên thoả thuận không xây dựng các công tŕnh nhân tạo tại khu vực thác Bản Giốc để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái ở khu vực này, đồng thời nhất trí xem xét hợp tác khai thác tiềm năng du lịch và sẽ kư Thoả thuận cấp Chính phủ về vấn đề này. Hai bên cũng thoả thuận sẽ thiết lập khu vực tự do đi lại cho tàu thuyền của cư dân biên giới tại khu vực cửa sông Bắc Luân và kư một thoả thuận cấp Chính phủ quy định các nội dung cụ thể liên quan. Hai bên cũng đồng ư sẽ tổ chức lễ mừng công hoàn thành PGCM (phân giới cắm mốc) tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn, Việt Nam) và Hữu Nghị Quan (Quảng Tây, Trung Quốc) vào thời gian thích hợp trong năm 2009.”

Về Ải Nam Quan, ông Dũng biện bạch theo cách nói của phường chèo: “Về khu vực Hữu nghị quan: Theo các tài liệu lịch sử đang được lưu giữ, Trấn Nam Quan hay c̣n gọi là Ải Nam Quan đều nằm bên phía Trung Quốc, đường biên giới nằm phía nam Trấn Nam Quan. Theo “Đại Nam Nhất thống chí, Trấn Nam Quan được xây dựng từ thời nhà Minh; sau đó, đời Nhà Thanh cho tu bổ lại vào năm 1726. Dấu tích lịch sử quan trọng của khu vực cửa khẩu Hữu nghị là mốc 19 cũ do Pháp - Thanh cắm năm 1894. Vừa qua ta và Trung Quốc đă tiến hành cắm mốc 1117 trùng với vị trí mốc 19 cũ, đường biên giới đi qua Km số 0, mốc 19 cũ đến điểm cách điểm nối ray hiện tại 148m. Như vậy có thể khẳng định đường biên giới tại cửa khẩu Hữu nghị vừa được PGCM là phù hợp với lịch sử và thực tiễn quản lý ở khu vực này.” (Báo điện tử Đảng CSVN, ngày 05/01/2009)

Khi c̣n làm Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao, ông Dũng đă cố căi lư như thế khi bị đông đảo trí thức và cựu đảng viên c̣n tâm huyết trong nước và người Việt ngoài nước lên án đảng cắt đất, nhượng biển cho Tàu trong 2 Hiệp định về đất liền (năm 1999) và lănh hải (năm 2000).

Lập luận cũa ông Dũng ngay lập tức bị nhà báo Bùi Tín, người biết Dũng quá nhiều và đang tị nạn ở Pháp, phản ứng quyết liệt trong một bài viết: “Trước hết tôi tin là ta mất đất. Mất cả ở vùng Ải Nam Quan, cả ở vùng Bản Giốc. Trước hết đó là 2 vùng không xa lạ với tôi. Đă có nhiều lần hồi trẻ tôi thăm thác Bản Giốc. Nước ta rất hiếm thác, nên Bản Giốc nổi tiếng. Tôi c̣n nhớ như in cái thiệp du lịch thắng cảnh Đông Dương do người Pháp in, có Thác Bản Giốc - Cao Bằng, bên thác có cái ki-ốt tṛn, nhỏ, lợp tranh để người đến thăm có thể ngồi tránh nắng, mưa. Tôi đă đích thân cùng bạn và gia đ́nh nhiều lần đến thăm thác Bản Giốc, khi gia đ́nh tôi sống ở thị xă Cao Bằng. Các chị và em tôi đă giở cơm nắm ra ăn trong cái ki-ốt nhỏ khi bọt nước ở chân thác bắn đến gần. Chúng tôi c̣n ṭ ṃ ngắm bà con người Mán sơn đầu sống gần đó. Phía Trung Quốc c̣n ở xa, khá xa, không ai nhắc đến, đinh ninh là thác ở hẳn trên đất ta.”

Ông Bủi Tín c̣n nói chi tiết hơn: “Ở Ải Nam Quan c̣n rơ hơn. Tôi đi qua đây gần chục lần, bằng ô tô và xe lửa, những năm 1957, 1961, rồi 1976, 1977, 1986, 1989. Cổng đá cao lớn với 3 chữ hán ''Trấn Nam Quan'', sau được đổi là ''Hữu Nghị Quan'' chữ vàng, cùng cột cây số có chữ ''0 km'' chữ đen nền trắng là những vật gây ấn tượng mỗi lần đi qua. Thường đến đó xe dừng lại để nghỉ ngơi, ngắm cảnh và đưa giấy tờ cho công an và hải quan 2 bên. Hai lần đầu, tôi nhớ rơ, chiếc cột cây số ở rất gần cổng, không sát cổng đổ xuống, nhưng không xa, ước tính bằng chiều rộng của một sân bóng đá, không thể đến 100 mét. Năm 1986, tôi quan sát kỹ, và nhận ra quang cảnh khác hẳn thời chiến, cổng vẫn thế, nhưng từ cổng đổ xuống, nhà cửa san sát, băi xe rộng, nhà nghỉ, trạm gác, dăy nhà công an, hải quan của phía Trung Quốc mọc lên, bề thế, đi mỏi chân mới đến cột cây số mới toanh''0km'', không thể dưới 300 mét, phải bằng 2 chiều dài của sân bóng đá. Cho nên chỉ bằng quan sát tại chỗ, so sánh thực tế, tôi cũng đă có thể khẳng định ông Vũ Dũng không biết thực tế, cố t́nh nói liều.”

“Tài liệu c̣n lưu trong hồ sơ chính quyền Pháp cũng nói đường biên giới ở cách chân cổng Trấn Nam Quan ''chừng 100 mét'', với bản đồ đi kèm. Vậy mà theo sơ đồ vẽ tại chỗ hiện nay, khoảng cách ấy là từ 300 đến 350 mét. Chả trách bộ chính trị và bộ ngoại giao giấu kỹ các tập bản đồ đến thế, cho dù trong Hiệp định về biên giới có ghi rơ tập bản đồ kèm theo là ''bộ phận cấu thành của Hiệp định''. Chừng 100 mét, so với 300 hay 350 mét th́ có khác ǵ nhau không, thưa ông Vũ Dũng? Vậy th́ cái cổng nặng nề ấy đă bị di dời sang phía Bắc, hay cái cột cây số nhỏ bé đă bị gió thổi về phía Nam ? Không th́ v́ đâu ?”

Ông Bùi Tín c̣n thách thức: “Cũng lại xin hỏi ông Dũng: năm 1979 Bộ ngoại giao đă ra sách Trắng về sự thật trong quan hệ Việt-Trung và sự thật về biên giới 2 nước, có nhiều đoạn tố cáo phía Trung quốc: ''đă lợi dụng việc phía Việt nam nhờ in giúp bản đồ cỡ 1/100.000, vẽ vùng có thác Bản Giốc của Việt nam sang phía Trung quốc; đă lợi dụng việc nối đường sắt giữa 2 nước để lấn sang biên giới Việt Nam đến hơn 300 mét; đă nhân việc làm ống dẫn dầu qua biên giới mà lấn một dải đất dài 3100 mét, rộng 500 mét của lănh thổ Việt nam''. Tôi biết hồi ấy chính ông đă cùng Trưởng ban biên giới Lê Minh Nghĩa tham gia viết Sách Trắng ấy của Bộ ngoại giao. Vậy nay ông có dám nói rằng tất cả những tố cáo ấy là không đúng, là sai, là vu cáo phía Trung Quốc và nay ông xin sám hối hay không?”

Cuốn Sách Trắng của bộ Ngoại giao c̣n lên án ''Nhà cầm quyền Trung Quốc thực hiện một tư tưởng chỉ đạo đại dân tộc, thực hiện một chính sách ích kỷ dân tộc và thực hiện mục tiêu chiến lược của chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và chủ nghĩa bá quyền nước lớn''.

Kết luận, ông Bùi Tín chửi xéo Vũ Dũng: “Xin ông cho biết: nay ông có thực tâm rút lui lời lên án ấy, để thay vào đường lối mới của hai bộ chính trị hiện nay là 16 chữ vàng (!): ''láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng đến tương lai'' ? (Bùi Tín, “Vấn đề mất đất mất biển: Tôi thách ông Vũ Dũng đấy!”. Thông Luận, ngày 18/01/2008)

Sách Trắng nói ǵ ?

Tập Sách Trắng của Nhà xuất bản Sự Thật ấn hành tháng 3/1979, sau cuộc chiến tranh biên giới Việt-Tàu, c̣n tố cáo Tàu chiếm đất của Việt Nam từ năm 1954.

Một đọan trong Chương II của sách này viết: “Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đă lần lượt chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt Nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế. Họ đă dùng mọi thủ đọan, kể cả những thủ đọan xấu xa nà các chế độ phản động của Trung Quốc trước kia không dùng.”

“Lợi dụng đặc điểm núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đă đưa dân họ vào những vùng lănh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương, rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm quyến Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lănh thồ Trung Quốc.”

Riêng đọan 7, đă viết về việc Tàu có ư định chiếm một phần thác Bản Giốc khi Tàu “lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam chuyển dịch đường biên giới”.

Nguyên văn: “Năm 1955-1956, Việt Nam đă nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000, Lợi dụng ḷng tin của Việt Nam, họ đă sửa kư hiệu mợt số đọan đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đă sửa kư hiệu khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và P̣ Thoong.”

Không ai có thể hiểu khác điều khẳng định như đinh đóng cột của CSVN vào năm 1979 khi họ viết trên giấy trắng mực đen rằng Tàu “định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và P̣ Thoong”.

C̣n vùng đất của Việt Nam tại Hữu nghị quan thuộc về ai ? Sách Trắng của Việt Nam tố cáo Tàu: “Năm 1955, tại khu vực Hữu nghị quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đọan đường sắt từ biên giới Việt – Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng ḷng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đă đặt điểm nối ray đường sắt Việt – Trung sâu trong lănh thồ Việt Nam trên 300 mét so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đă đề nghị chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vần đề biên giới th́ sẽ xem xét. Cho đến nay (chú thích : 1979), họ vẫn trắng trợn ngụy biện rằng khu vực hơn 300 mét đường sắt đó là đất Trung Quốc với lập luận rằng “không thể có đường sắt của nước này đặt trên lănh thổ nước khác.”

Đó là những điều nói ra từ cửa miệng nhà nước CSVN. Không ai biết rơ t́nh trạng 300 mét đất mất ấy bây giờ thuộc về Ta hay Tàu. Ấy là chưa kể các phần đất quân Tàu chiếm rồi không trả lại cho Việt Nam sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, đă từng được Hà Nội tố cáo Bắc Kinh trước khi hai bên nối lại bang giao năm 1991.

Chiếu ngang lănh thổ vùng biên giới Việt - Tàu dài khoảng 1,400 cây số.

Thả tham nhũng

Việc thứ hai là quyết định đặc xá cho những phạm nhân can tội tham nhũng lớn nhỏ, trong số này có hai cha con Mai Văn Dâu, cựu Thứ trưởng Bộ Thương mại, con trai Mai Thanh Hải và phó vụ trưởng Vụ Xuất Khẩu Lê Văn Thắng và 277 cán bộ, đảng viên can phạm tham nhũng.

Ngoài ra c̣n có Lương Quốc Dũng, phó chủ nhiệm Ủy Ban Thể Dục Thể Thao, chức vụ tương đương hàng thứ trưởng, bị bỏ tù từ năm 2004 với bản án 8 năm v́ hiếp dâm trẻ em.

Mai Văn Dâu bị bắt tháng 9/2004 v́ toa rập với một số viên chức dưới quyền lấy tiền hối lộ mà không cấp quota xuất cảng hàng dệt may.

Tính đến ngày được đặc xá, Dâu bị bắt đă 5 năm. Tháng 6/2007, Mai Văn Dâu được Toà án Nhân dân Tối cao giảm án từ 14 xuống 12 năm tù về tội nhận hối lộ. Tại cơ quan điều tra, Mai Văn Dâu đă thừa nhận nhiều lần bút phê lên hồ sơ xin cấp hạn ngạch dệt may của các doanh nghiệp và được Nguyễn Cương (nguyên phó Ban quản lư các khu chế xuất và khu công nghiệp TP HCM) "biếu" 6.000 dollars.

Hành động khoan hồng cho những kẻ tham nhũng, ăn cắp tiền của nhân dân trong khi đảng và nhà nước không ngừng găng cổ lên kêu gào và thúc đẩy đảng viên kiên quyết pḥng chống tham nhũng không khác ǵ đă xỉ nhục, tạt gáo nước lạnh vào mặt những ai đang ngày đêm t́m cách làm sạch chế độ.

Từ nay, có c̣n ai muốn chống tham nhũng nữa không hay cán bộ, đảng viên thấy kẻ tham nhũng trước ḿnh mà chỉ bị tù “làm cảnh” như thế th́ dại ǵ không thi đua, bảo nhau đục khóet để lỡ có bị bắt cũng thoả chí, bơ công ?

Chẳng thế mà trong Hội nghị 9 của Trung ương đảng mới kết thúc hôm 13/01/2009 vừa qua, đảng phải thừa nhận: “Công tác pḥng, chống tham nhũng, lăng phí vẫn c̣n nhiều hạn chế, yếu kém; hành động trong công tác pḥng, chống tham nhũng, lăng phí c̣n hạn chế; tính khả thi của một số quy định pḥng, chống tham nhũng, lăng phí chưa cao; tổ chức thực hiện các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác pḥng, chống tham nhũng, lăng phí chưa đồng đều, chưa sâu, nhiều nơi c̣n yếu; tính tiên phong, gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ có chức vụ, quyền hạn c̣n yếu kém; công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở nhiều nơi c̣n thiếu chủ động, chưa thường xuyên, có hiện tượng né tránh trong xử lư; nhiều vụ án tham nhũng c̣n xử lư chậm. Hoạt động của Ban Chỉ đạo và bộ phận giúp việc ở nhiều địa phương c̣n lúng túng; sự chỉ đạo, điều hành của một số cấp uỷ, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra. T́nh h́nh tham nhũng vẫn c̣n nghiêm trọng, diễn biến phức tạp; t́nh trạng nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức gây bức xúc trong nhân dân.”

Việc đặc xá hàng loạt những kẻ tham nhũng và hành động dâng lănh thổ cho Tàu Trước thềm năm mới Kỷ Sửu không liên hệ với nhau, nhưng lại mang cùng một ư nghĩa phản bội và xúc phạm nghiêm trọng đến vong linh của những anh hùng, liệt sĩ đă hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc và những nạn nhân đang c̣n sống của tham nhũng.

Phạm Trần
19/01/2009

 

 

 

 

Nguồn http://www.trangdenonline.com