Quan hệ Việt Trung

21/1/2009

Một số vấn đề biên giới Việt Trung cuối năm 2008

Ngày 22 tháng 12 vừa qua cột mốc mang số 1116 tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Nam Quan) được cắm. Buổi lễ cắm mốc diễn ra long trọng, có mặt của đại diện bộ Ngoại Giao hai nước Việt – Trung. Phía Việt Nam do ông Vũ Dũng, Thứ Trưởng bộ Ngoại Giao làm trưởng đoàn. Báo chí trong nước đăng tải rầm rộ với tít lớn nơi trang nhất: Hoàn thành phân giới và cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc trong năm 2008: Việt - Trung đă xác định đường biên giới rơ ràng.
Nhân dịp này ông Vũ Dũng cho biết :
- Việc cắm cột mốc số 1116 đă đánh dấu công tác phân giới và cắm mốc (PG&CM) biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc đang tiến tới đích cuối cùng, hoàn thành công tác này trên thực địa trong năm 2008, đúng như lănh đạo cấp cao hai nước đă thỏa thuận.
Đây là cầu nối hết sức quan trọng trong giao thương, phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc nói riêng và Trung Quốc với cộng đồng ASEAN nói chung. Việc hoàn thành phân giới và cắm mốc tại cửa khẩu Hữu Nghị sẽ tạo điều kiện cho hai bên hoàn thành việc đấu nối 2 tuyến đường cao tốc Nam Ninh - Bằng Tường và Lạng Sơn - Hà Nội trong thời gian tới.

Một câu hỏi liên quan thời điểm kết thúc công tác cắm mốc được Ông Dũng trả lời :
Hiện nay, 6/7 tỉnh của Việt Nam là Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn đă hoàn thành công tác PG&CM trên thực địa; tỉnh Cao Bằng c̣n một số vị trí mốc chưa cắm. Hai bên đang khẩn trương hoàn thành việc xác định và cắm các mốc c̣n lại trong tháng 12 này.

Công việc phân giới vẫn chưa hoàn tất nhưng báo chí loan tin rầm rộ với cái tít thật lớn Hoàn thành phân giới và cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam, việc này không hề đúng với thực tế. Buổi lễ được tổ chức long trọng nhưng rất gượng ép, không khác một đám cưới chạy tang. Nó cũng trở thành buổi lễ khánh thành việc : « nối tuyến đường cao tốc Nam Ninh – Bằng Tường – Lạng Sơn – Hà Nội ».
Người ta có cảm tưởng nhà nước CSVN treo đầu heo bán thịt chó, công tác rao bán được giao cho tập đoàn báo chí !
Nhưng mĩa mai là tuyến đường này cũng chưa làm xong. Thịt chó v́ vậy cũng là chó vẽ.
Nhiều người đă nói việc mở các tuyến đường (xe lửa và đường bộ) Nam Ninh – Lạng Sơn - Hà Nội và Côn Minh – Lào Cai – Hải Pḥng là chỉ làm lợi cho phía Trung Quốc. Kết luận này không phải không có căn cứ. Thời Pháp thuộc, nhà nước thực dân đă xây dựng đường xe lửa từ Hải Pḥng đi Côn Minh (thủ phủ Vân Nam) do ư kiến của ông Paul Doumer (Toàn Quyền Đông Dương từ 1897 đến 1902). Công tŕnh này hao tốn rất nhiều cho ngân sách nhưng đă không tạo ra lợi lộc mà chỉ tạo sự phồn thịnh cho Hồng Kông.
Nhiều người khác cũng nói việc mở đường chỉ tạo sự dễ dàng cho TQ đem quân sang xâm lăng VN. Điều này có thể đúng, nhưng việc không sai là các tuyến đường này sẽ mở cho hàng hóa Trung Quốc tràn ngập Việt Nam. Các tuyến đường chưa mở mà kinh tế VN đă điêu đứng. Mở ra th́ chưa biết sẽ c̣n thê thảm ra sao ?
Điểm quan trọng khác, trên quan điểm « địa lư chính trị », có 3 yếu tố cấu thành « tương quan lực lượng » giữa hai bên, gồm có : con người, tiền bạc và văn hóa. Trong đó yếu tố quan trọng nhất là yếu tố con gười. Cả ba yếu tố này TQ đều vượt trội VN. Về tiền bạc và văn hóa TQ đă thống trị VN. VN ngày nay c̣n giữ được độc lập phần nào là do yếu tố con người. Văn hóa (và con người) Tây Tạng, Mông Cổ… đă bị tộc Hán đồng hóa hầu như hoàn toàn. Hiện nay hầu hết các nước Đông Nam Á, không mặt này th́ mặt khác, đă bị Hán hóa. Tân Gia Ba là một tiểu quốc của người Tàu. Kinh tế các nước trong khối ASEAN hầu hết đều do người Hoa nắm giữ. Một trong những mục tiêu chiến lược của TQ, đă được tiết lộ từ đầu thiên kỷ, là trong một vài thập niên các nước ASEAN sẽ được lănh đạo do các thành phần người gốc Hán. Điều này đă và đang xảy ra tại Thái Lan : ông Thaksin Shinawatra, cựu thủ tướng là người Thái gốc Hoa. Ông Abhisit Vejjajiva, thủ tướng mới cũng là người Thái gốc Hoa. Đặc biệt hai ông thủ tướng này nổi lên từ các cuộc bầu cử dân chủ tự do, trung thực nhất trong lịch sử nước Thái.
Việc mở đường Hà Nội – Lạng Sơn - Nam Ninh và Hải Pḥng – Lào Cai - Côn Minh, cộng với chính trị « không cần visa » của nhà nước CSVN ưu đăi cho người TQ, cũng không bao lâu VN sẽ trở thành « một thành phần » của TQ. TQ sẽ chiếm lĩnh vùng Đông Nam Á không tốn một viên đạn ; bởi v́ họ là bậc thầy trong việc « cài người ».

Trở lại vấn đề, cắm mốc chưa xong, tuyến đường chưa hoàn tất, nhưng buổi lễ vẫn long trọng cử hành. Để đánh dấu cho cái ǵ ?
VN luôn tạo cho người ta thấy t́nh trạng nóng vội của ḿnh. Điều này cho thấy đảng CSVN đang cố gắng mọi cách làm hài ḷng cho đàn anh Trung Quốc.
Xem ra bộ Ngoại Giao của nhà nước CSVN ngày càng « xuống cấp ». Đă chạm đáy của lố bịch hay chưa ? Báo chí cũng thế, đều là một tập đoàn lá cải, chỉ loan tin vịt, đánh lừa dư luận.

2/ T́nh trạng phân giới khu vực Hữu Nghị Quan
Một câu hỏi liên quan khu vực Hữu Nghị Quan được ông Dũng trả lời như sau :
- Do hạn chế của điều kiện lịch sử, các văn bản pháp lư về hoạch định và PG&CM giữa Pháp và nhà Thanh có những điểm quy định không rơ ràng, đặc biệt tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, nên rất khó xác định hướng đi của đường biên giới tại khu vực này.
Chính v́ vậy, tại khu vực này đă xảy ra tranh chấp rất phức tạp và kéo dài. Hiệp ước 1999 đă xác định đường biên giới đi qua Km0, qua mốc 19 cũ do Pháp và nhà Thanh cắm và qua điểm nằm cách điểm nối ray 148m về phía Bắc.
Ông Dũng đă cho biết đường biên giới khu vực Hữu Nghị quan đi qua cột km zéro, qua mốc 19 cũ và qua điểm cách điểm nối đường ray xe lửa 148m về phía Bắc.
Cột kilo mét zéro không phải là mốc biên giới. Mốc biên giới cũ mang số 18, cách cổng Nam Quan 100m. Theo h́nh chụp dưới đây (nguồn phổ biến trên mạng internet) th́ Hữu Nghị Quan là nhà hải quan của TQ, mái tṛn, màu xanh, được xây cất mới sau này. Đây không phải là Nam Quan. Nhà này cách cổng Nam Quan về phía nam, ước lượng trong h́nh khoảng trên dưới 100 m. Nơi đây có thể là vị trí cột mốc số 18 cũ. Đường biên giới lư ra phải đi qua chỗ này. Cột ki lô mét zéro, do ông Phạm Văn Đồng dựng vào đầu thập niên 60, ở xa về phía nam, cách ṭa nhà mái tṛn của hải quan TQ ít nhất 300 mét. Đứng chụp h́nh từ cột km zéro không thấy ṭa nhà hải quan của TQ. Như thế đường biên giới tại đây lấn qua Việt Nam ít nhất 300m.
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.
Theo bản đồ khu vực 249C (khu vực Hữu Nghị Quan) đính kèm hiệp định 1999 sau đây th́ đường biên giới đi qua cột mốc 19 nhưng sau đó đi về phía nam tạo thành một lỗ trũng, thay v́ theo hướng đông đông-bắc như bản đồ SGI . Cột mốc 19, theo bản đồ của sở Địa Dư Đông Dương (SGI 1954, 1/100.000), vẽ theo công ước Pháp-Thanh, là nơi đường xe lửa đi qua – tức là điểm nối đường ray hai nước. Tại đây, theo ông Dũng, đường biên giới mới lấn về phía Việt Nam 148m.
Như thế việc mất đất vùng Nam Quan là việc có thật. Có nơi lấn vào trên 300m, có nơi mất 148m… Ông Dũng đỗ thừa việc này do « hạn chế lịch sử », là do các văn bản pháp lư về hoạch định và PG&CM giữa Pháp và nhà Thanh có những điểm quy định không rơ ràng.
Nhưng thực tế các văn bản này có « không rơ ràng » hay không ?
Cột mốc cắm tại Nam Quan, theo biên bản phân định số 4, kư ngày 7 tháng 4 năm 1886 :
La Commission de Délimitation Franco-Chinoise a reconnu, le sept avril mil huit cent quatre-vingt-six, qu’à partir du point situé à cent mètres en avant de la Porte de Nam-Quan, sur la route de Nam-Quan à Đồng-Đăng, la frontière remonte à l’Ouest jusqu’au sommet de la montagne rocheuse sur lequel est situé le fort marqué A sur le croquis ci-joint, suit à partir de ce fort le haut de la muraille rocheuse qui domine la route de Đồng-Đăng jusqu’au point marqué B sur le croquis. Ce point B se trouve à l’endroit où le sentier qui, se détachant de la route de Đồng-Đăng à Nam-Quan, conduit au village de Lung-Ngieu, coupe la muraille rocheuse. Elle suit ensuite ce même chemin jusqu’au la Porte du village de Lung-Ngieu. A partir de cette Porte elle reprend le haut des rochers qui contournent le cirque du village de Lung-Ngieu pour arriver à un point marqué C. Du point C elle se dirige à l’Ouest jusqu’à la Porte de Kida…

Tác giả tạm dịch và chú giải thêm như sau:

"Ủy ban Pháp - Trung Phân định Biên giới nh́n nhận, nhằm ngày Bẩy tháng Tư năm một ngàn tám trăm tám mươi sáu, từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Đồng Đăng (cột số 18 – tác giả), đường biên giới theo hướng Tây đi lên đến đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có cô sự đánh dấu là điểm A ở trên sơ đồ kèm theo đây, sau đó đường biên giới từ điểm này theo đường đỉnh cao của bức tường núi đá nh́n xuống con đường Đồng Đăng cho đến điểm B đánh dấu trên sơ đồ (cột số 17 – tác giả). Điểm B là điểm mà con đường ṃn - đường ṃn này là một nhánh rẽ của con đường Đồng Đăng đi Nam Quan - dẫn đi đến làng Lung Ngieu (Lũng Ngọ 隴午, c̣n viết là Lộng 弄 – tác giả) cắt bức tường núi đá. Đường biên giới theo con đường ṃn cho đến cổng làng Lung Ngieu. Từ cổng, đường biên giới đi lên ngọn rặng núi đá bọc quanh thung lũng làng Lung Ngieu để đi đến điểm C (cột số 16 – tác giả). Từ điểm C đường biên giới đi về hướng Tây cho đến cửa Ki Da (trên bản đồ ghi Khua-Da, có lẽ là Cửa Du, tức ải Du)…
Xem thêm tại : http://www.talawas.de/ ngày 21 tháng 10 năm 2008.
Biên bản cắm mốc, đoạn từ Chí Mă đến Nam Quan. Ḍng cuối: "à 100m en avant de la porte de Nam Quan sur le chemin de Dong Dang. Biên bản ngày 19 tháng 6 năm 1894 xác định rơ rệt vị trí các cột mốc đă cắm vùng Quảng Tây.
Vị trí cột mốc 18 xác định đường biên giới tại Nam Quan mô tả như thế không thể rơ ràng hơn.
Hướng đi của đường biên giới cũng được mô tả rơ rệt theo biên bản ở trên.
Việt Nam không chỉ mất 300m trước Nam Quan hay 148m tại điểm nối ray. Đối chiếu với bản đồ SGI và khu vực 249C đính kèm ta thấy Việt Nam bị mất thêm khu núi đá đối diện phía Bắc của Đồng Đăng. Trên khu núi đá này người Pháp ngày xưa có xây công sự, nay nó thuộc về TQ. Theo bản đồ SGI, đường biên giới cũ cách Đồng Đăng khoảng 1.800m theo đường chim bay. Hiện nay đường biên giới đi sát Đồng Đăng, không tới 100m. Từ trên núi người Tàu có thể quan sát mọi động tĩnh ở Đồng Đăng. Thời Pháp, Đồng Đăng được bảo vệ do các công sự trên núi đá về phía bắc. Ngày nay Đồng Đăng bỏ ngơ, TQ muốn « tiếp thu » lúc nào chẳng được ?
Việc mất đất khu vực Nam Quan không thể do « các văn bản pháp lư về hoạch định và PG&CM (phân giới và cắm mốc, tg) giữa Pháp và nhà Thanh có những điểm quy định không rơ ràng » như ông Dũng đă nói. Các biên bản cắm mốc theo tinh thần công ước Pháp-Thanh 1887 và bộ bản đồ SGI thành lập hiện vẫn c̣n được tồn trữ tại trung tâm Văn Khố Hải Ngoại Pháp (CAOM) tại Aix-en-Provence (Pháp Quốc). Chứng cớ c̣n nguyên đó, ông Dũng không thể nói theo chỉ thị.
Đây là việc mà lănh đạo CSVN sẽ phải trả lời trước quốc dân và lịch sử.



3/ Vấn đề băi Tục Lăm :
Theo một số tin tức th́ Việt Nam đă nhượng băi Tục Lăm cho TQ. Xem http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=21094 .
Băi Tục Lăm ở đâu ? băi này thuộc về ai ?
Theo tài liệu http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.chin...dan.42402.qdnd th́ băi Tục Lăm là khởi điểm của 3.200km chiều dài bờ biển Việt Nam từ bắc vào nam. Tài liệu này cũng nhắc nơi đây đă có tranh chấp gay gắt. Hồi kư của ông Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng bộ Ngoại Giao cũng có nhắc đến vụ tranh chấp ở Lục Lầm, Quảng Ninh.
Theo bản đồ Móng Cái http://www.mongcai.gov.vn/index.aspx...&page=1&id=159 Tục Lăm thuộc xă Hải Ḥa, là phần đất giữa sông Ka Long và phụ lưu hữu ngạn của nó là sông Lục Lâm. Xă Hải Ḥa được thành lập trên cơ sở tách ra từ xă Hải Xuân, có diện tích tự nhiên là: 3.891,52 ha. Phía Đông giáp phường Trà Cổ, phía Tây giáp phường Trần Phú, phía Nam giáp xă Hải Xuân, phía Bắc giáp Trung Quốc. Dân số: 8.452 người. Có 5 dân tộc gồm: Kinh, Mường, Tày, Sán D́u, Hoa. Xă Hải Ḥa có 13,5km chiều dài đường biên giới chung với Trung Quốc.
Trên bản đồ SGI 1/100.000 sau đây, vùng Tục Lăm tương ứng với địa danh Lục Lâm.
V́ thế chiếu theo công ước 1887 vùng Tục Lăm (Lục Lâm) hoàn toàn thuộc về Việt Nam.

Vùng biên giới giữa tỉnh Hải Ninh (Quảng Ninh ngày nay) được xác định theo biên bản phân giới ngày 15-4-1890 và biên bản ngày 21-12-1893 của công ước 1887. Biên bản 15-4-1890 có xác định vị trí của 20 cột mốc biên giới (10 trên lănh thổ VN và 10 trên lănh thổ TQ) nhưng thực ra không hữu ích thực sự v́ đường biên giới ở khu vực này là sông Ka Long. Đă được xác định là ḍng sông th́ các cột mốc không c̣n quan trọng. Điều ước đáng chú ư nhất của văn bản này có nguyên văn như sau:
Conformément aux conventions admises par les deux Commissions dans la séance d’ouverture des travaux, le 1er Novembre 1889 - 9e jour de la 10e mois de la 15e année de Kouong-Siu, on prendra toujours pour frontière le chenal navigable, c’est à dire le plus profond de la rivière formant la limite des deux Etats.
Si, par suite de crues ou de baisses des eaux, le chenal navigable se déplace et si des bancs ou ilots nouveaux viennent se former, la frontière se trouvera reportée naturellement dans le nouveau chenal navigable et les bancs ou ilots de nouvelle formation appartiendront à la puissance du côté de la quelle ils se trouveront.
Tác giả tạm dịch như sau :
Chiếu theo các công ước đă được hai ủy ban công nhận trong phiên họp khai mạc công tŕnh phân giới, ngày 1 tháng 12 năm 1889 nhằm ngày 8 tháng 10 năm Quang Tự thứ 15, người ta luôn chọn đường biên giới là đường nước tàu bè lưu thông, có nghĩa là phần sâu nhất của ḍng sông, là đường giới hạn giữa hai nước.
Nếu sau này, v́ ngập lụt hay v́ cạn nước, đường tàu bè thông lưu thay chỗ, và nếu những dăi đất hay các cù lao được thành h́nh, đường biên giới sẽ đương nhiên dời qua đường tàu bè thông lưu mới và những dăi đất hay cù lao mới thành h́nh sẽ thuộc về nước mà phía bờ của nó ở đó.

So sánh hai bản đồ SGI và Móng Cái đính kèm, ta thấy hai bản đồ phù hợp hầu hết mọi nơi, chỉ ngoài một điểm : cù lao không tên (khoanh màu xanh trên bản đồ Google) phía cực đông của sông Ka Long. Theo bản đồ SGI th́ cù lao nay thuộc TQ. Theo bản đồ hành chánh Móng Cái th́ cù lao này thuộc VN. Việc này giải thích ra sao ?
Xem bản đồ google vùng đông bắc Móng Cái :
http://maps.google.com/maps?f=q&hl=e...=lmc:panoramio
Ta thấy trên bản đồ vệ tinh, nhánh sông biên giới phía nam cù lao đă không c̣n là ḍng chảy chính. Ḍng chảy chính là nhánh sông phía bắc của cù lao. Theo điều ước nói trên, phần viết đỏ, th́ đường biên giới phải đổi sang ḍng chảy chính, là ḍng tàu bè lưu thông. Đường biên giới v́ thế là nhánh sông phía bắc.
Điều đáng chú ư, trên bản đồ google ta thấy phía bờ TQ có kè bờ theo h́nh xương cá lấn ra sông, nhằm mục tiêu thu hẹp ḍng chảy chính để ḍng sông biên giới đổi ḍng về phía nam. Nhưng việc này không thành công v́ thiên nhiên đứng về phía VN. Nhờ phù sa bồi đắp mà nhánh sông biên giới trước kia, tức nhánh phía nam, bị cạn dần, ḍng chính trở thành nhánh phía bắc.
Như thế bản đồ hành chính Móng Cái của VN phù hợp với thực tế và tinh thần của điều ước của công ước 1887.
Vùng Lục Lâm (hay Tục Lăm, vùng khoanh màu đỏ trên bản đồ google), kể cả cù lao không tên (khoanh màu xanh trên bản đồ google), đều thuộc lănh thổ Việt Nam.
Theo trả lời phỏng vấn của ông Vũ Dũng th́ vùng Hải Ninh đă hoàn tất việc phân giới, cắm mốc. Số phận của băi Tục Lăm ra sao ? Đến lúc tác giả viết bài này th́ số phận vùng đất này vẫn chưa ai biết. Hy vọng nhà nước CSVN không phạm sai lầm như đă phạm tại các khu vực Nam Quan, Bản Giốc, công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng v.v…


Bản đồ hành chánh thị xă Móng Cái. Băi Tục Lăm là vùng đất ở giữa sông Ka Long và phụ lưu tả ngạn của sông này là sông Lục Lâm. So sánh với bản đồ SGI phía dưới th́ Tục Lăm chính là Lục Lâm.


Bản đồ SGI 1/100.000, góc đông bắc bản đồ tỉnh Hải Ninh. Vùng Lục Lâm, tức vùng đất giữa hai nhánh sông Ka Long, hoàn toàn thuộc về Việt Nam.


Bản đồ vệ tinh của google vùng Tục Lăm (Lục Lâm), khoanh màu đỏ. Cù lao không tên khoanh màu xanh cũng thuộc về VN v́ đường biên giới theo ḍng chảy chính, tức ḍng chảy phía bắc (đối diện nơi có cột mốc số

 

Nguồn http://vietnamesetalk.com/?vietnam