Đào Trung Đạo, RFA
Tình hinh chính trị Á châu, nhất là
vùng Đông Nam Á, trong những tháng
cuối năm nay gây chú ý đáng kể và
cũng dẫn tới nhiều lời bình luận
trong hầu hết mọi giới, từ giới
nghiên cứu bìh luận chính trị cho
tới giới truyền thông trong và ngoài
nước. Hai tụ điểm gây chú ý nhất là:
việc Mỹ trở lại Á châu và động thái
phản ứng của Trung Quốc. Về phía Mỹ,
chuyến đi của Tổng thống Obama tới
dự những cuộc họp với các nhà lãnh
đạo Á châu và những nhà lãnh đạo của
khối Asean với những lời tuyên bố
bày tỏ quyết tâm của chính quyền Mỹ
trong việc trở lại Á châu qua việc
lien minh với Ấn Độ, Úc, Nhật cũng
như những nước Asean để bảo đảm sự
ổn định, an ninh vùng Đông Nam Á,
cũng như duy trì hải trình tự do ở
eo biển Malacca, thành lập vòng đai
hợp tác kinh tế song phương và đa
phương với các nước ven Thái Bình
Dương (không có Trung Quốc).
Trước những động thái này của chính
quyền Mỹ giới lãnh đạo Trung Quốc,
trái với những dự đoán căn cứ vào
thái độ của họ trong quá khứ, đã
“xuống giọng”, tỏ ra mềm mỏng. Bảo
rằng giới lãnh đạo TRung Quốc “ngạc
nhiên” thì quả thực là một nhận xét
hơi quá đà. Để có một nhận định sát
với thực tế về quan hệ Trung-Mỹ
thiết tưởng cần nhìn vấn đề trong
toàn thể bối cảnh chính trị hiện nay
của Mỹ và Trung Quốc
Về tình hình chính trị của Mỹ các
yếu tố sau đây ít nhiều đóng góp vào
quyết định trở lại Á châu của chính
quyền Obama. Yếu tố thứ nhất là cuộc
bầu cử Tổng thống sắp diễn ra vào
cuối năm, và cuộc chạy đua lấy phiếu
cử tri Mỹ của Đảng Dân chủ cũng như
của ông Obama là điều tất nhiên. Lấy
phiếu trên các lãnh vực: kinh tế,
chính trị, và ngoại giao. Về kinh
tế, ván bài tạo công ăn việc làm,
tăng thuế giới giàu có, đòi hỏi cũng
như kích động giới dân cử Mỹ buộc
Trung Quốc phải thay đổi giá trị
đồng tệ, lưu ý các nước có hàng xuất
khẩu nhiều sang Mỹ hãy chuyển hướng
về tiêu thụ nội địa – nói khác đi là
cảnh báo các nước này về việc xuất
khẩu hàng hóa sang Mỹ - đòi hỏi
Trung Quốc phải tôn trọng luật chơi
hội nhập đối xử công bằng với các
công ty Mỹ ở Trung Quốc, lấy được
những đơn đăt hàng mua máy bay nhiều
chục tỷ cho Mỹ v.v… Nhưng ưu tiên
cao nhất của Mỹ vẫn là đòi hỏi phát
huy dân chủ, nhân quyền ở Á châu. Và
đó cũng là “lá cờ đầu” của Mỹ trong
việc trở lại Á châu.
Điều này ông Obama nói rất rõ trong
tất cả các bài phát biểu trong các
hội nghị với giới lãnh đạo Á Châu.
Chúng ta không quên đang khi Tổng
thống Obama đến dự các cuộc họp với
các nhà lãnh đạo Á châu thì Bà Ngoại
trưởng Hilary Clinton trong những
dịp phát biểu về chính sách đối
ngoại của Mỹ ở Á châu vấn đề nhân
quyền là ưu tiên hàng đầu. Và chuyến
đi Miến Điện vào tháng 12 tới đây
của Bà Hilary Clinton cũng nằm trong
sách lược này. Về quân sự, nhất là
sức mạnh của hải quân Mỹ, giới lãnh
đạo Mỹ không hề coi sức mạnh hải
quân của Trung Quốc là một đe dọa
tới khả năng bá chủ đại đương của
Mỹ. TRong tình hình khá ồn ào vào
những tháng trước về những tranh
chấp ở Biển Đông giữa các nước liện
hệ Mỹ đã không ngần ngại ngang nhiên
đưa lực lượng hải quân của họ vào
vùng này.
Có một điểm ta không thể coi nhẹ
trong nhận định về chiến lược chính
trị của Mỹ: Dù trong hiện tại Mỹ có
giao dịch với các nước còn tồn tại
chế độ độc tài nhưng mục tiêu cốt
lõi của Mỹ vẫn là thúc đẩy dân chúng
các nước hiện đang sống dưới chế độ
độc tài vùng dậy đòi hỏi sự thay đổi
thể chế. Trong vòng hai năm nay
chúng ta đã thấy rõ hậu quả lan
truyền của cuộc “Cuộc Cách Mang Hoa
Nhài” ở Ai cập, Lybia, Iraq,
Syria…nhằm tiêu hủy nhưng chế độ độc
tài. Và đây là cao trào chính trị
đang phát triển mạnh do việc toàn
cầu hóa. Sau khi chiến tranh lạnh
chấm dứt với sự xụp đổ của khối Cộng
sản, thế giới bước vào một thiên
niên kỷ mới với sự xụp đổ lần lượt
của mọi chế độ độc tài. Vai trò của
Mỹ trong hiện trạng thế giới không
phải là dùng sức mạnh quân sự như
trong thời chiến tranh lạnh nữa mà
sức mạnh quân sự chỉ là yếu tố đòn
bảy cho sách lược dân chủ, tự do, và
nhân quyền. Những nhận định nói trên
chỉ ra sách lược của Mỹ đối với
Trung Quốc: không dùng quân sự ttrực
tiếp nhưng dùng những liên minh quân
sự để đảm bảo đường hài hải Malacca
đặt dướ quyền kiểm soát của Mỹ,
không để xảy ra sự đối đầu về quân
sự giữa Mỹ và Trung Quốc.
Tất nhiên những nhà lãnh đạo Trung
Quốc và Việt Nam rất hiểu sách lược
của Mỹ.
Về phía Trung Quốc, do hiện trạng
kinh tế phát triển khả quan nhưng
cải thiện về chính trị không theo
kịp nên đây là vấn đề họ không thể
không đối phó. Từ lâu nay những nhà
lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam vẫn
duy trì não trạng tư duy “dân chúng
chỉ cần no đủ” là việc cai trị của
Đảng Cộng sản sẽ bền vững. Nhưng
dưới sự quản lý của Đảng Cộng sản
trong nhiều thập kỷ, sau những cuộc
“Đổi Mới” trá hình theo kiểu Đặng
Tiểu Bình là chỉ đổi mới về kinh tế
mà thôi, tuy kinh tế phát triển khả
quan nhưng lại nảy sinh những vấn đề
tạo nên sự bức xúc trong xã hội đưa
đến bất ổn chính là: nạn tham nhũng
không hề suy giảm mà càng ngày càng
phát huy, bất công xã hội thể hiện
qua sự chênh lệch giàu nghèo quá
đáng giữa quan chức và cán bộ Cộng
sản so với đại bộ phận dân chúng,
chính sách bất công về đất đai, nền
giáo dục trì trệ v.v.. Hậu quả là
hiện nay Đảng Cộng sản Trung Quốc và
Việt Nam đứng trước thách thức sinh
tử: yếu tố kinh tế không thể phủ lấp
đòi hỏi thay đổi chính trị, sự khát
khao dân chủ, tự do nhân quyền của
dân chúng. Đó là những đòi hỏi không
thể phủ nhận, chối bỏ. Điều này cũng
chỉ ra sự sai lầm của lý tưởng cọng
sản.
Thực trạng xã hội Trung Quốc và Việt
Nam giống nhau ở tất cả các mặt cốt
yếu nên dẫn tới một cách thế đối phó
tương tự: Trong đoản kỳ các nhà lãnh
đạo Cộng sản chưa phải lo tới mầm
mống dẫn tới thay đổi chính trị
nhưng họ phải, bằng mọi cách, chính
yếu là sử dụng hệ thống công an và
những lực lượng thứ yếu như dân
phòng, quần chúng giả dạng v.v... để
tiêu diệt hoàn toàn những mầm mống
đưa tới bất ổn xã hội. Điều khôi hài
có tính cách mỵ dân là cách dãn nhãn
hiệu “âm mưu lật đổ chính quyền” lên
tất cả các phần tử gây bất ổn xã
hội, đòi hỏi công bằng, chống tham
nhũng. Dẫn chứng cho nhận xét trên:
Xin trích bản tin trên VOA: “Các
giới chức tuyên truyền hàng đầu của
Việt Nam và Trung Quốc mới đây đã
trao đổi ý kiến và chia sẻ kinh
nghiệm về cách thức duy trì quyền
hành qua việc tập trung thảo luận về
điều gọi là 'công tác quần chúng
trong tình hình mới'.Hãng thông tấn
Đức trích tin của Tân Hoa Xã cho
biết ông Đinh Thế Huynh, Trưởng ban
tuyên giáo trung ương của Đảng Cộng
Sản Việt Nam, nói rằng cuộc thảo
luận hôm thứ Hai (28-11-2011) có ích
cho việc củng cố quyền cai trị của
hai đảng và tăng cường các mối quan
hệ song phương. Ông Lưu Vân Sơn,
Trưởng ban tuyên truyền trung ương
Đảng Cộng Sản Trung Quốc, nói rằng
hai đảng đương quyền ở Trung Quốc và
Việt Nam đang đối mặt với những
trách vụ chung là tăng cường và cải
thiện công tác quần chúng và nên tập
trung vào việc 'giải quyết những vấn
đề lợi ích mà quần chúng quan tâm
nhất'.
Một điều cốt yếu khác cũng không thể
bỏ qua khi nhận định tình hình chính
trị Trung Quốc và Việt Nam: Rút kinh
nghiệm về sự xụp đổ của khối Cọng
sản trước đây, các nhà lãnh đạo Cộng
sản Trung Quốc và Việt Nam hiểu
rằng: Nếu một trong hai Đảng Cộng
sản (Trung Quốc hay Việt Nam) xụp
đổ, điều này tất nhiên sẽ dẫn tới sự
xụp đổ toàn bộ. Vì vậy họ phải đoàn
kết nhau để sinh tồn. Thế nên họ
phải sát cánh hâu thuẫn nhau. Không
làm gì có điều người dân Việt Nam
mong đợi: các nhà lãnh đạo hiện nay
chống Trung Quốc.
Khi đã nhận ra những nét chính như
vừa nêu trên chúng ta sẽ khách quan
hơn khi đánh giá những động thái
chính trị của hai vị Chủ tịch nước
Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng. Về những chuyến đi chính
trị của ông Trương Tấn Sang nhằm tìm
kiếm hậu thuẫn của Ấn Độ,
Philippines…thì việc này chỉ có
nghĩa làm cho Bắc Kinh bớt “ăn hiếp”
trong đoản kỳ chứ đây hoàn toàn
không phải là một động thái chống
đối chính sách Trung Quốc. Chứng cớ
giới lãnh đạo Trung Quốc không hề
lên tiếng phê phán hay có thái độ
nổi giận trước những việc làm của
ông Trương Tấn Sang! Cũng vậy, những
lời tuyên bố mới đây trước Quốc Hội
của ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ nói lên
“sự thực lịch sử” chứ không hề có
nghĩa đối kháng Trung Quốc! Và sau
lời tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng
chúng ta cũng không hề nghe nói giới
lãnh đạo Bắc Kinh có phản ứng! Lý
do: họ đều là những người Cọng sản
đang chơi ván bài duy trì quyền
hành. Cũng như những cuộc biểu tình
“Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt
Nam” diễn ra được ở Hà Nội là một
“đòn xả xú bắp”, ngấm ngầm kiểm soát
của chính quyền trong ván bài thương
thảo với Trung Quốc. Mặt khác phần
nào nhằm thỏa mãn lòng tự hào của
giới sĩ phu Bắc hà chứ không để
những cuộc biểu tình này có diễn
biến phức tạp dẫn tới biểu tình đòi
hỏi dân chủ, nhân quyền, tự do. Còn
Saigon thì chính quyền không những
vẫn quan niệm dân chúng Miền Nam là
“công dân hạng hai” không thể tin
tưởng – truyền thống Kháng chiến Nam
Bộ vẫn còn đó – cho nên tất cả mọi
manh nha biểu tình lập tức bị dập
tắt tức thời vì chính quyền e ngại
những diễn biến phức tạp sẽ xảy ra
ngoài tầm kiểm soát. VÀ luật biểu
tình do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
yêu cầu Quốc Hội đưa vào chương
trình soạn luật cũng chỉ là một “đòn
hờ” nhằm đối phó tình hình hiện nay.
Tuy chúng tôi nêu ra những nhận xét
như trên có phần không mấy khích lệ
đối với dân chúng Việt đang mong đợi
có những thay đổi về chính trị,
nhưng cũng nên nhìn nhận: rõ ràng có
một độ lùi đáng kể (bước lùi chiến
lược) của những nhà lãnh đạo Cọng
sản. Và độ lùi này cũng chỉ là một
bước trong việc duy trì quyền hành
mà thôi. Thế nên ta có thể rút ra
mấy điều để kiểm chứng trong tương
lai: Thứ nhất: trong quan hệ Mỹ-Việt
và Mỹ-Trung, các nhà lãnh đạo Cộng
sản, do tình hình hiện tại đòi hỏi,
có những nhượng bộ tối thiểu, nhưng
sự tin cậy hoàn toàn thì chưa thể
có. Vì vậy việc “đi với Mỹ” là một
nhận định không có cơ sở. Thứ nhì:
việc đàn áp từ trong trứng nước
những mầm mống tạo bất ổn xã hội
trong những ngày sắp tới sẽ gay gắt
hơn, triệt để hơn, và Điều 76 sẽ là
lá cao dán lên những ung nhọt của
chế độ. Với những “phần tử chống
đối” về chính trị, đòi hỏi thay đổi
thể chế thì Bộ Chinh trị trước sau
vẫn thi hành chính sách “không khoan
nhượng”. Nếu là phần tử
“undesirable” có hậu thuẫn của các
nước Tây-Âu, nhất là Mỹ, như Lê Công
Định thì nhân cơ hội “làm vừa lòng”
Mỹ (và cũng để trao đổi một cái gì
đó) bằng cách tống khứ khỏi Việt
Nam. Còn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và
Linh mục Nguyễn Văn Lý, tuy là những
cái gai trước mắt, nhưng họ sẽ tùy
tình hình đối phó. Thứ nhì: Không
phải những điều các nhà lãnh đạo
Cọng sản Việt Nam muốn là được, và
họ chưa hẳn đã là những nhà chính
trị có khả năng vượt qua mọi khó
khăn để tồn tại. Hơn nữa, với sự
bùng nổ của thông tin điện tử, với
truyền thống đấu tranh của dân tộc,
với sự có mặt của những tập đoàn tư
bản Âu-Mỹ (họ phải chấp nhận để phát
triển kinh tế), với những mâu thuẫn
giữa các nhóm quyền lợi v.v… là
những yếu tố tiềm tàng dẫn đến sự
xụp đổ của chế độ, Trong tương lai
bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra dù
sớm dù muộn. Nhưng ý chí đấu tranh
của đông đảo quần chúng vẫn là yếu
tố quan trong nhất như ta thấy ở
những xứ “Cuộc Cách Mang Hoa Nhài”
thành công. Chỉ khi đại bộ phận dân
chúng muốn dân chủ, tự do, nhân
quyền thì khi đó mới mong có sự hậu
thuẫn của Mỹ và các nước dân chủ
khác trên thế giới. Điềy này có xảy
ra ở Việt Nam không là một dấu hỏi
lớn.
Một nhận xét sau chót: Vì biết trước
sự trở lại Á châu của Mỹ, những nhà
lãnh đạo Trung Quốc tưởng rằng
“tương kế tựu kế” chơi lá bài Biển
Nam Trung Hoa (Biển Đông) để khỏa
lấp những khó khăn rạn nứt trong nội
bộ giới lãnh đạo cũng như những bất
ổn xã hội bằng cách ru ngủ dân chúng
rằng Trung Quốc nay đã là một siêu
cường (từ trong tâm khảm người Trung
Quốc mối nhục bị các nước Âu-Mỹ và
Nhật xé nát đất nước họ thành từng
mảnh để cai trị vẫn còn đó) , giả đò
phấn khích những phần tử dân túy,
ném vỏ chuối để bọn này trượt ngã,
nhằm duy trì quyền hành của Đảng
Cọng sản. Nhưng “hư hóa thực”: chính
vì chơi ván bài “quá lố” này Mỹ có
cớ để trở lại Á châu trong tư thế
được chào đón! Nhưng hậu quả của ván
bài chính trị này ít ra phải một
thập kỷ nữa mới có những nét rõ
ràng.